Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Nguyên nhân gây vô sinh ở nữ giới

Có ba nhóm nguyên nhân khiến phụ nữ khó mang thai, do vậy, chị em cần đến gặp các thầy thuốc chuyên khoa sớm để tìm ra nguyên nhân và điều trị đúng mới mang lại hiệu quả.

Không rụng trứng

Để biết có rụng trứng hay không, bạn có thể dựa vào các triệu chứng như: kinh nguyệt có đều hay không, ra chất nhầy giữa chu kỳ kinh, nhiệt độ cơ thể, siêu âm sự phát triển nang noãn và xét nghiệm máu định lượng nội tiết. Trong đó, định lượng nội tiết, siêu âm hoặc nội soi ổ bụng sẽ giúp chẩn đoán. Khoảng 70 - 80% phụ nữ không rụng trứng do mắc hội chứng buồng trứng đa nang với biểu hiện: kinh thưa, mất kinh hoặc mọc nhiều trứng cá, lông rậm, béo bệu và kèm theo nhiều nang nhỏ được phát hiện khi siêu âm. Bên cạnh đó, phụ nữ đến tuổi sinh sản không rụng trứng còn do suy yếu vùng dưới đồi - tuyến yên ở não bộ vốn là cơ quan kích thích buồng trứng hoạt động, hoặc do tăng tiết prolactin dẫn tới ức chế buồng trứng. Do vậy, lời khuyên đầu tiên cho chị em là hãy cố gắng thư giãn, thoải mái, tin tưởng vào thầy thuốc, điều này đóng góp 50% vào sự thành công trong điều trị vô sinh.

 Ảnh minh họa
Tắc vòi trứng

Đây là nguyên nhân chiếm đến 40% các trường hợp vô sinh ở nữ giới và có liên quan đến tiền sử hút và nạo thai. Do vậy, phụ nữ cần thiết phải sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn. Nếu lỡ có thai thì nên đến hút và nạo thai ở các cơ sở y tế chuyên khoa bảo đảm an toàn. Phương pháp nội soi ổ bụng để gỡ dính tắc vòi trứng, mở thông vòi hoặc nối lại vòi… sẽ mang lại hiệu quả tốt trong các trường hợp bị tổn thương ít và nhẹ. 70% các trường hợp còn lại chỉ có thể có thai bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm.

Tổn thương dính ở cổ tử cung, hoặc ở buồng tử cung

Nguyên nhân vô sinh này thường liên quan tới tiền sử hút thai và nạo thai. Dính buồng tử cung (TC) ở mức độ nhẹ là dính một phần niêm mạc buồng TC. Khi bị dính buồng TC có biểu hiện kinh ít và thưa, đau bụng khi hành kinh. Tuy nhiên, cũng có thể dính toàn bộ buồng TC với biểu hiện là mất kinh hoàn toàn sau nạo hút thai. Có những phụ nữ may mắn hơn chỉ dính một phần ngoài ống TC, không bị tổn thương đến niêm mạc TC. Trong trường hợp này, việc điều trị đơn giản hơn. Với trường hợp bị dính TC, dù một phần hay toàn bộ thì việc điều trị cũng phức tạp và tỷ lệ tái phát rất cao.

Ngày nay, với tiến bộ của y học, các tổn thương dính buồng TC đã được giải quyết bằng phẫu thuật nội soi. Để tránh dính sau mổ, bác sĩ cũng có thể đặt vòng chống dính và cho uống thuốc nội tiết để tạo kinh nhân tạo từ 4 – 5 tháng, tùy theo tình trạng tổn thương dính. Mặc dù kết quả điều trị dính buồng trứng TC đã có nhiều tiến bộ và khả quan trong những năm gần đây, nhưng nguyên nhân này cũng là nguyên nhân khiến nhiều bác sĩ chuyên ngành vô sinh trăn trở, đặc biệt là các bệnh nhân bị dính buồng TC toàn bộ.

BS Thu Phương

Những biến cố trong thời kỳ hậu sản

Thời kỳ hậu sản là khoảng thời gian sau khi nhau sổ cho đến khi chức năng sinh lý và giải phẫu của cơ quan sinh dục cơ thể người mẹ trở lại trạng thái bình thường, trung bình là 6 tuần lễ. Bên cạnh đó, có thể có những biến cố xảy ra trong thời kỳ hậu sản.

 Ảnh minh họa
Chảy máu sau sinh (CMSS)

CMSS bao gồm băng huyết, tụ máu sau may tầng sinh môn và chảy máu muộn.

CMSS do đờ TC: bình thường sau khi nhau sổ ra ngoài, tử cung phải co lại để cầm máu. Khi TC không co lại được gây ra chảy máu, khi lượng chảy máu trên 500ml gọi là băng huyết sau sinh kèm theo triệu chứng vã mồ hôi, chân tay lạnh, da niêm xanh, huyết áp tụt, mạch nhanh, TC mềm nhão, ấn vào TC máu từ âm đạo chảy ra nhiều. Đây là một cấp cứu khẩn về sản khoa, cần truyền dung dịch mặn đẳng trương kèm với oxytocin pha truyền tĩnh mạch chảy nhanh, kết hợp hồi sức, truyền dung dịch cao phân tử, truyền hồng cầu lắng cùng nhóm và xoa nắn trên đáy TC giúp cho TC co hồi tốt. Cần kiểm tra lòng TC sau khi dấu sinh hiệu tạm ổn.

CMSS do tổn thương đường sinh dục: nguyên nhân do rách tầng sinh môn, âm đạo và cổ TC. Sau sinh máu từ âm đạo chảy ra nhiều, khám TC co hồi tốt, TC có cầu an toàn rõ, kiểm tra bằng dụng cụ thấy có tổn thương đang chảy máu ở đường sinh dục. Cần hồi sức tốt, truyền dung dịch mặn đẳng trương, khi sinh hiệu ổn định thì tiến hành may lại chỗ tổn thương và kết hợp dùng thuốc kháng sinh liều cao, giảm đau và giảm sưng nề.

CMSS do bệnh lý rối loạn đông máu và cầm máu: sau sinh máu âm đạo chảy ra nhiều, toàn máu loãng, không có máu cục, người mẹ cảm giác mệt, vã mồ hôi, huyết áp tụt, mạch nhanh, xét nghiệm máu các chức năng đông máu cầm máu giảm và kéo dài. Cần truyền dung dịch mặn đẳng trương, dung dịch cao phân tử, huyết tươi đông lạnh và hồng cầu lắng cùng nhóm.

CMSS do tụ máu may tầng sinh môn hay tụ máu sau vết mổ sinh: nguyên nhân do kỹ thuật may và cầm máu trong lúc khâu không hết còn các mạch máu vẫn đang chảy. Triệu chứng sau khi khâu vết cắt tầng sinh môn hay vết mổ sinh, tại vết khâu nổi lên một khối u lớn, ấn mềm kèm theo các dấu hiệu mất máu rõ trên người mẹ như: dấu sinh hiệu kém, da xanh, niêm mạc nhợt và xét nghiệm hồng cầu giảm, hematocrit giảm và hemoglobin xuống thấp. Cần truyền dịch với dung dịch mặn đẳng trương, truyền hồng cầu lắng cùng nhóm nếu cần, khi sinh hiệu ổn cần may lại, lấy hết khối máu tụ, cầm máu kỹ, có thể đặt lame dẫn lưu nếu cần.

CMSS do chảy máu muộn: đây là biến cố xảy ra vào tuần thứ 2 hoặc thứ 3 sau sinh do bất thường vùng nhau bám hoặc sót nhau. Triệu chứng ra máu âm đạo tự nhiên, máu đỏ tươi, đôi khi đau nhẹ vùng hạ vị, TC co hồi chậm, siêu âm TC thấy TC còn lớn, lòng TC có khối hỗn hợp. Xử trí nạo hút lòng TC kết hợp truyền dung dịch mặn đẳng trương kèm với oxytocin truyền tĩnh mạch giúp cho TC co hồi tốt để cầm máu, dùng kháng sinh toàn thân để tránh nhiễm trùng.

Dự phòng chảy máu sau sinh

Tùy theo nguyên nhân CMSS mà ta có dự phòng tốt. Trong băng huyết sau sinh, phòng ngừa hiện nay chủ động xử trí tích cực ở giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ, nghĩa là chủ động tiêm oxytocin là thuốc co TC sau khi thai nhi sổ ra. Ngoài ra, đối với những trường hợp tiên lượng dễ băng huyết sau sinh như: đa thai, đa sản, chuyển dạ kéo dài, chuyển dạ có can thiệp sản khoa như trong sinh giúp ta nên lập một đường truyền tĩnh mạch, một chai dịch truyền đẳng trương có kèm oxytocin. Trong CMSS do tụ máu sau may tầng sinh môn hay khâu vết may trong mổ sinh, cần cầm máu kỹ các mạch máu bị đứt do cắt, may theo đúng nguyên tắc, đúng kỹ thuật. Trong chảy máu muộn cần kiểm tra kỹ bánh nhau và màng nhau, lưu ý có các bánh nhau phụ. Trường hợp không chắc chắn có thể kiểm tra buồng TC bằng tay, để xem sự vẹn toàn của buồng TC.

Bế sản dịch và dự phòng

Triệu chứng của bế sản dịch: người mẹ sốt nhẹ, căng tức, đau trằn vùng hạ vị. Khám âm đạo rất ít sản dịch có thể kèm mùi hôi do nhiễm trùng, cổ TC đóng kín, dùng tay nong cổ TC sản dịch ra màu đen sậm kèm mùi hôi, ấn hạ vị TC lớn, đau nhiều khi ấn đáy TC.

Xử trí: dùng ngón tay nong cổ TC để sản dịch thoát ra ngoài, nếu cổ TC cứng chít hẹp không thể nong bằng tay được ta dùng que héga để nong cổ TC từ số nhỏ đến que số lớn, có thể dùng thuốc misoprostol đặt âm đạo trước 4 giờ, giúp cho cổ TC mềm và cổ TC mở kết hợp nong cổ TC. Đồng thời dùng oxytocin pha truyền tĩnh mạch giúp TC co hồi tốt, kết hợp dùng thuốc kháng sinh liều cao toàn thân để tránh nhiễm trùng.

Nhằm tránh sản dịch ứ lại trong buồng TC cũng như phòng ngừa viêm nội mạc TC do bế sản dịch. Nhất thiết kiểm tra cổ TC sau sinh, cần nong rộng cổ TC. Đối với trường hợp sinh mổ chủ động, sau khi bóc nhau ra và lau sạch lòng TC cần nong cổ TC từ đường mổ xuống đoạn dưới TC bằng tay phẫu thuật viên, trước khi may lớp cơ TC. Sau khi mổ xong giai đoạn lấy máu cục âm đạo, cần phải nong cổ TC một lần nữa.

Sau sinh cần vận động sớm, có thể nằm sấp với thời gian từ 20 - 30 phút mỗi ngày đối với người mẹ có TC ở tư thế gập trước, giúp cho sản dịch ra dễ dàng.

Những rối loạn về đường tiết niệu

Bí tiểu sau sinh: trong chuyển dạ, khi ngôi thai xuống thấp, thường là đầu thai nhi, đè vào cổ bàng quang hay niệu đạo gây ứ đọng nước tiểu làm bàng quang căng giãn, khi giãn nhiều làm mất trương lực, làm co thắt cơ cổ bàng quang. Ngoài ra, trường hợp sau sinh phải cắt may tầng sinh môn, làm chỗ may sưng nề đau làm cho người mẹ khi đi tiểu không dám rặn tiểu vì đau. Sau khi sinh bàng quang không nhạy cảm với kích thích khi nước tiểu đầy, gây bí tiểu. Ngoài ra khi bí tiểu, động tác thông tiểu nhiều lần gây viêm bàng quang, làm cho triệu chứng bí tiểu thể hiện rõ. Điều trị bí tiểu sau sinh, bằng cách khôi phục lại trương lực bàng quang bằng những biện pháp như: chườm ấm vùng bàng quang, rửa hay ngâm vùng sinh dục ngoài bằng nước ấm, vận động sớm, tập ngồi tiểu theo tư thế bình thường. Sau những biện pháp trên không thành công, ta đặt sonde tiểu giữ và tháo kẹp mỗi 4 giờ/lần, tạo lại phản xạ đi tiểu, kết hợp dùng thuốc prostigmin hay xatral dùng thời gian 4 - 5 ngày. Sau đó rút sonde tiểu cho cho người mẹ tập đi tiểu.

Són tiểu: ngược lại với trường hợp bí tiểu do co thắt cơ ở cổ bàng quang, những người mẹ bị són tiểu sau sinh là do cơ co thắt cổ bàng quang không tốt, gặp trong trường hợp chuyển dạ kéo dài; sinh đẻ nhiều lần. Khi người mẹ cười, khi gắng sức, khi ho làm tăng áp lực ổ bụng làm cho nước tiểu bị són ra ngoài. Cách điều trị: tư vấn cho người mẹ an tâm về tinh thần, chế độ nghỉ ngơi tốt và dinh dưỡng sau sinh đầy đủ kết hợp dùng prostigmin khoảng 1 tuần sẽ ổn định. Trường hợp không khỏi và kéo dài qua thời kỳ hậu sản, có kế hoạch phẫu thuật nâng bàng quang bằng giá đỡ ở đối tượng sinh nhiều mà có tiểu són kéo dài.

Viêm tắc tĩnh mạch sau sinh

Viêm tắc tĩnh mạch ở thời kỳ hậu sản thường gặp là viêm tắc tĩnh mạch đùi nông. Triệu chứng, thường xảy ra vào ngày thứ 3 trở đi sau sinh, sốt cao 38,5 – 39oC, chân bị viêm rất đau, không thể nâng chân lên khỏi mặt giường được, tĩnh mạch sưng đỏ dọc theo chân. Toàn bộ chân phù nề trắng.

Điều trị: nằm bất động, chân bị viêm nâng cao hơn đầu, giúp cho máu ở phần chi dưới được lưu thông dễ dàng hơn. Dùng thuốc kháng sinh toàn thân liều cao, giảm đau, hạ sốt, có thể dùng Aspirin rất tốt trong trương hợp này, ngoài tác dụng giảm đau, thuốc còn có tác dụng chống ngưng tập tiểu cầu và dính vào thành mạch, hạn chế sự hình thành cục máu đông. Sử dụng Heparin, đây là thuốc đầu tay, có vai trò quan trọng điều trị huyết khối và tắc mạch, dùng bằng tiêm tĩnh mạch.

Dự phòng: hoạt động sớm sau khi sinh, không nên nằm lâu trên giường, vận động tay chân, khi nằm gác chân cao giúp sự lưu thông máu tốt.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Vì sao đặt vòng mà vẫn có thai?

Bất kỳ biện pháp tránh thai nào cũng không thể đạt được hiệu quả 100%. Thắt ống dẫn trứng chỉ đạt hiệu quả 99%, dùng thuốc tránh thai đạt 98%, còn đặt vòng tránh thai đạt từ 80-90%.

Nguyên nhân việc đặt vòng mà vẫn có thai có thể do: vòng bị rơi ra mà không biết, vòng trong khoang tử cung ở vị trí thấp gần cửa cổ tử cung, không khống chế được vai trò phát triển và quá trình đưa phôi vào trong tử cung, kích cỡ của vòng không phù hợp với kích thước của tử cung hoặc do vòng đã bị biến dạng làm mất đi tác dụng của vòng tránh thai. Nội mạc tử cung không thích ứng với vòng tránh thai cho nên cũng không đạt được hiệu quả tránh thai mong muốn. Tuột vòng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến có thai dù đã đặt vòng

 Vỡ kế hoạch là nỗi lo của phụ nữ
Nguyên nhân gây tuột vòng

Vòng đã được đưa vào tử cung vẫn có thể tuột ra. Đối với tử cung, vòng là một loại dị vật. Vì vòng tránh thai có thể loại bỏ chức năng của tử cung làm cho tử cung bị co thắt khiến vòng bị tuột ra khỏi tử cung. Lúc này có thể xuất hiện các hiện tượng như: đau lưng, đau bụng, ra nhiều khí hư, rong kinh. Vì vậy, sau khi đặt vòng trong những tháng đầu rất dễ xảy ra các phản ứng do chưa thích ứng nên dẫn đến hiện tượng tuột vòng. Nếu vòng không bị tuột thì sau đó tử cung sẽ dần dần thích ứng.

Thời gian đặt vòng quá lâu cũng là nguyên nhân dẫn đến bị tuột vòng. Thông thường, tỉ lệ tuột vòng chỉ chiếm từ 1-14%. Ngoài việc không thích ứng nên dẫn đến tuột vòng, còn có 5 nguyên nhân khác:

- Do không nắm rõ vị trí đặt vòng cụ thể. Phụ nữ sau khi sinh non, tử cung thường rất to, hoặc trong thời kỳ cho con bú chưa xuất hiện kinh nguyệt trở lại nên tử cung rất nhỏ. Tử cung quá to hoặc quá nhỏ đều có thể là nguyên nhân dẫn đến tuột vòng.

- Do sa tử cung, cổ tử cung bị tổn thương nên khi đặt vòng cũng dễ bị tuột.

- Do kích thước của tử cung và kích cỡ vòng tránh thai không phù hợp.

- Do chất lượng và hình dáng của vòng, như vòng rỗng thì chất lượng kém, vòng hỗn hợp nhựa kim loại dễ bị tuột, vòng kim loại có chất lượng mềm nên cũng dễ bị tuột.

- Do vấn đề về kỹ thuật đặt vòng, đó là khi đặt vòng đã không đưa được đến tận đáy tử cung, hoặc sau khi đặt vòng xong rút dụng cụ đặt vòng không cẩn thận đã kéo vòng ra theo gần miệng cổ tử cung, hiện tượng này cũng dễ dẫn đến bị tuột vòng.

Vòng tránh thai trong tử cung 

Những điều cần làm sau khi đặt vòng

Sau khi đặt vòng, chị em nên nghỉ ngơi 2 ngày, và trong vòng một tuần tránh làm việc nặng.

Định kỳ phải đi bệnh viện kiểm tra. Thông thường sau khi đặt vòng một tháng, sau khi hết kinh nguyệt nên đến bệnh viện kiểm tra lần đầu và 3 tháng sau nên tái khám lần nữa.

Sau này căn cứ theo tình hình mà nên cách 1 - 2 năm đi kiểm tra lại.

Tỉ lệ tuột vòng cao nhất là trong 3 tháng đầu sau khi đặt, đặc biệt là trong chu kỳ kinh nguyệt miệng tử cung luôn mở để cho kinh nguyệt chảy ra ngoài nên vòng cũng dễ bị tuột theo. Thời gian lâu dần thì vòng đã thích ứng trong tử cung nên tỉ lệ bị tuột cũng giảm dần.

BS. NGUYỄN NGỌC LAN

“Giá như kiên trì hơn, tôi đã hết u xơ tử cung”

Điều trị khoảng một năm, kích thước u xơ tử cung của chị đã giảm xuống được 1cm. Vậy mà, do công việc bận rộn, đồng thời không thấy biểu hiện của bệnh nữa nên chị đã ngừng điều trị. Không ngờ, một thời gian sau, chị đi khám lại thì được biết kích thước u xơ tử cung đã to trở lại 3,7cm – Sự chủ quan đó đã khiến căn bệnh của chị Nguyễn Thị Th. (sinh năm 1968, ở tổ 3, khu 6, phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) trở về mốc số 0.

Chị Th. kể về câu chuyện của mình: “Năm 2007, tôi bị đau nhói ở bụng dưới khi đứng lên ngồi xuống, rất khó chịu. Ban đầu, tôi nghĩ chắc đó là dấu hiệu bình thường ở phụ nữ. Sau đó, trong một lần đưa đứa cháu đi khám tại một cơ sở y tế tư nhân ở Cẩm Phả, tôi cũng thử khám xem mình có bị bệnh gì không. Cầm kết quả siêu âm trên tay, tôi hoảng sợ, không tin nổi khi biết mình bị u xơ tử cung khá lớn là 3,7cm. Tôi lo phát khóc và rất sợ mổ, nếu tôi phải nằm viện thì ai chăm sóc gia đình? Không cam tâm, tôi đã hỏi bạn bè xem có phương pháp nào điều trị bệnh mà không phải mổ. May thay, một người quen đã khuyên tôi dùng Nga Phụ Khang”.

 Ảnh minh họa
Như “chết đuối vớ được cọc” chị Thế đã mua Nga Phụ Khang về uống ngay, với 9 viên một ngày. Bên cạnh đó, chị còn uống nước sắc từ lá cây trinh nữ hoàng cung, mỗi sáng uống hai thìa nhỏ tam thất, kết quả làm chị mừng vui: “Sau khi dùng Nga Phụ Khang liên tục, triền miên khoảng hơn một năm, tôi đi xét nghiệm lại thì u xơ tử cung giảm xuống nhiều, chỉ còn 2,7cm”.

Thấy không còn đau bụng, u xơ tử cung đã giảm, người cảm thấy dễ chịu, vòng xoáy cuộc sống đã khiến chị Th. quên đi việc phải chữa trị dứt điểm căn bệnh của mình. “Bẵng đi một thời gian dài, đến tháng 08/2010, tôi thấy đau bụng, đi khám thì bác sĩ cho hay kích thước u xơ đã to trở lại 3,7cm”. Lúc này, cảm xúc của chị Th. trở nên hỗn độn: Bàng hoàng, nuối tiếc công sức, tiền bạc và  những kết quả khả quan của một năm điều trị bệnh đã bị chị bỏ phí: “Gía như tôi kiên trì uống Nga Phụ Khang suốt từ đó đến nay thì chắc tôi đã khỏi bệnh rồi”.

Dù đã muộn, nhưng ít ra chị vẫn còn biết rằng có Nga Phụ Khang giúp chị đẩy lùi được căn bệnh này. “Tôi quyết tâm phải điều trị nghiêm túc, triệt để u xơ tử cung. Tôi đang sử dụng phương pháp điều trị cũ, tức là dùng Nga Phụ Khang 9 viên một ngày, kết hợp uống nước lá cây trinh nữ hoàng cung trồng trong vườn và tam thất, tôi đã hết đau bụng. Chắc chắn là tôi không mổ mà chỉ uống Nga Phụ Khang để duy trì. Tôi thấy rất nhiều phụ nữ bị bệnh này, tôi có người quen mổ u xơ tử cung ở dưới Hạ Long xong thì bị dính ruột, phải đưa lên Hà Nội cấp cứu, nên tôi rất sợ. Hôm tôi đi khám, bác sĩ cũng bảo cứ dùng Nga Phụ Khang đều đặn thì không cần phải mổ, vậy nên tôi cũng yên tâm và tin tưởng sản phẩm này”– chị cười.

 Thu Hồng

Tuổi “làm mẹ” phải đối mặt với bệnh gì?

Lứa tuổi 20 - 30 của phụ nữ được coi là một trong những giai đoạn đẹp nhất: Những rắc rối của tuổi dậy thì chấm dứt, cơ thể phát triển hoàn thiện, thực hiện thiên chức tuyệt vời nhất - làm mẹ… Thế nhưng, ở giai đoạn này, chị em cũng đừng quên phòng ngừa một số căn bệnh sau:

Thoái hóa võng mạc ngoại vi ở phụ nữ mang thai: Căn bệnh này có thể gây bong võng mạc - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù - ở bệnh nhân cận thị nói chung và phụ nữ mang thai cận thị nói riêng. Ở bệnh nhân cận thị, do trục nhãn cầu bị kéo dài nhiều năm, võng mạc bị giãn mỏng và thoái hóa, đặc biệt là vùng ngoại vi, do đó võng mạc trở nên yếu ớt trước những tác động cơ học. Phụ nữ bị cận thị nguy cơ bong võng mạc trong quá trình sinh nở càng cao. Chính vì thế, chị em cần hết sức lưu ý. Ngoài việc đi khám thai theo định kỳ, phụ nữ bị cận thị cần đi kiểm tra mắt. Nếu những tổn thương võng mạc được phát hiện sớm, bệnh nhân chỉ cần trải qua một lần điều trị gia cố võng mạc bằng la-de giúp ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ bong võng mạc.

Nếu không được điều trị kịp thời, bong võng mạc sẽ dẫn đến mù lòa.
Bệnh trĩ trong khi mang thai và sau khi sinh con:

Có rất nhiều nguyên nhân khiến phụ nữ có thai bị bệnh trĩ: ngồi nhiều, hạn chế vận động, uống ít nước... Trong quá trình sinh nở, việc rặn không đúng cách làm tăng áp lực lên ổ bụng, khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài. Sau khi sinh, tử cung mở to, tăng áp lực khoang chậu, tụ máu sưng phù tĩnh mạch ở phần hậu môn, gây ra bệnh trĩ. Bên cạnh đó, sau khi sinh, một số sản phụ thực hiện chế độ ăn uống kiêng khem quá mức… khiến nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Ngoài ra, các bệnh ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, hiện tượng thai những tháng cuối cũng có thể gây chèn ép và cản trở đường về của tĩnh mạch làm cho đám rối trĩ căng phồng lên, gây bệnh. Đặc biệt, những phụ nữ trong quá trình mang thai đã bị trĩ, sau khi sinh con nếu không biết giữ gìn sẽ khiến bệnh tiến triển nặng hơn.

Để phòng bệnh trĩ, các bà mẹ mang thai và mới sinh con cần lưu ý: Tránh bị táo bón bằng cách bổ sung thêm các loại rau xanh, trái cây và lượng nước đầy đủ cho cơ thể. Tăng cường vận động cơ thể, đặc biệt chú ý tập luyện cơ vùng chậu để vùng cơ này mềm mại, khỏe, từ đó hạn chế được bệnh trĩ. Sau khi đại tiện nên rửa sạch vùng hậu môn và lau khô. Nên cố gắng giảm căng thẳng và áp lực không cần thiết. 

Tư vấn sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.          
Trầm cảm và stress: Đây là căn bệnh mà phụ nữ thời hiện đại rất hay mắc phải. Nguyên nhân là do áp lực trong công việc, trong cuộc sống. Căn bệnh này càng tăng khi có gia đình, sinh nở và nuôi dạy con cái. Hậu quả của trầm cảm và stress, nếu ở mức độ nhẹ sẽ khiến phụ nữ dễ cáu gắt, lo âu, tính tình thất thường; cao hơn thì chán ăn hoặc ăn uống không kiểm soát, đau đầu, mệt mỏi… Tình trạng này nếu trường diễn sẽ khiến chị em suy sụp sức khỏe, dễ mắc các bệnh về tim mạch, huyết áp, chuyển hóa… Phòng và tránh trầm cảm, stress không khó. Chị em nên chia sẻ với bạn bè, người thân, chồng… những suy nghĩ, lo lắng của mình để sớm tìm ra cách giải quyết ổn thỏa nhất. Nên dành thời gian để thư giãn, giải trí nhằm lấy lại cân bằng tinh thần trong cuộc sống.

U xơ tử cung: Cứ 4-5 phụ nữ trong độ tuổi trên 35 lại có một người bị u xơ tử cung. Một người có thể có một hoặc nhiều u xơ cùng lúc trên tử cung. Đây là một loại khối u của tử cung xuất hiện trong thời kỳ sinh đẻ. Nó không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung và hầu hết không tiến triển thành ung thư.

Hiện nay, nguyên nhân gây u xơ tử cung vẫn chưa được biết rõ. Các yếu tố sau đây được xem là thủ phạm dẫn đến u xơ tử cung: di truyền; ảnh hưởng của nội tiết tố như progesterone, estrogen; đặc biệt là estrogen vì u xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất, sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm.

U xơ tử cung ít gây khó chịu và hiếm khi cần phải điều trị. Nếu khối u gây đau chói đột ngột vùng chậu thì cần phải được điều trị cấp cứu, dù biến chứng này hiếm xảy ra. Người ta có thể sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật để làm giảm kích thước hoặc cắt bỏ hoàn toàn khối u.  

  BS. Trần Thanh Hạnh

Phù nhau thai

 Tôi đã 30 tuổi, cách đây 2 năm khi mang thai được 16 tuần tuổi tôi đi khám và siêu âm bác sĩ phát hiện bị phù nhau thai và phải thực hiện đình chỉ thai nghén. Nay tôi muốn có thai nhưng lại sợ bị phù nhau thai lần nữa. Xin bác sĩ cho biết lần mang thai này tôi có bị như thế không?

       Phạm Thị Lưu (Sơn Động - Bắc Giang)

Nhau thai được gắn vào tử cung, đảm bảo thai nhi được cung cấp đủ chất dinh dưỡng và ôxy; đồng thời, nhau thai sản xuất ra đủ hormone giúp bào thai phát triển. Các chất dinh dưỡng và ôxy được truyền từ máu của mẹ vào tới bào thai qua nhau thai. Nhau thai còn liên kết với bào thai thông qua dây rốn. Nhau thai cũng giống như một miếng lá chắn, giúp bảo vệ bào thai trước nhiều loại vi khuẩn. Nhưng nó không đủ khả năng chống lại virut như virut cúm, virut gây bệnh Rubella vẫn có thể xâm nhập vào bào thai. Nếu mẹ hút thuốc hay uống rượu thì các chất từ rượu và thuốc có thể qua nhau thai, truyền tới thai nhi.

Bề mặt nhau thai mịn, sáng bóng, có màu đỏ và bề dày khoảng 2 - 4cm. Một nhau thai bình thường nặng khoảng 400 - 600g. Khi nhau thai bị phù, độ dày có thể gấp đôi bình thường, kèm theo đó có thể có bất thường thai hay nước ối. Bánh nhau là nơi trung gian để thực hiện sự trao đổi chất bổ dưỡng từ mẹ sang con và ngược lại các chất cần thải bỏ từ con sang mẹ. Khi bánh nhau bị bệnh, chức năng này không được đảm bảo, không có sự lưu thông giữa máu mẹ và máu con.

 Nguyên nhân gây phù nhau thai thường do nhiễm trùng, có thể là vi trùng hay siêu vi trùng (virut), cũng có khi do bất thường về nhiễm sắc thể gây ra bất thường nhau và thai. Những phụ nữ hút thuốc lá hay uống rượu, mắc bệnh Rubella khi mang thai... là nguy cơ dễ  dẫn đến nhau thai bị phù.

Trong thư chị không nói rõ nguyên nhân gây phù nhau thai lần trước, do vậy giờ muốn có thai chị cần đến khoa sản của các cơ sở y tế hoặc bệnh viện chuyên khoa sản để được bác sĩ tư vấn trước khi có thai. Nếu nguyên nhân do nhiễm trùng, hay vi trùng thực hiện phòng tránh tốt thì sẽ tránh được nguy cơ phù nhau thai. Đối với trường hợp bất thường về nhiễm sắc thể cần được bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm một số xét nghiệm cần thiết và sẽ tư vấn có nên mang thai lại hay không.

Hiện không có cách điều trị một khi đã bị phù nhau thai. Nếu không bỏ thai chủ động khi có bệnh, thai vẫn tiến triển nhưng sẽ tự mất sau một thời gian do nhau không đảm nhiệm được chức năng dinh dưỡng cho thai. Để không bị phù nhau thai, thai phụ không hút thuốc lá, uống bia rượu và tránh mắc bệnh Rubella, nhất là trong 3 tháng đầu thai kỳ. Thường xuyên khám và theo dõi thai tại các cơ sở y tế.

Bác sĩ Nguyễn Minh

Tiến bộ mới trong phát hiện sớm ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung thường được phát hiện ở những phụ nữ trong độ tuổi 40 - 50. Trên thế giới, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến hàng thứ hai và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong vì ung thư ở phụ nữ. Hằng năm có 500.000 ca ung thư cổ tử cung mới được phát hiện và gần 300.000 phụ nữ tử vong vì căn bệnh này

Trong một thời gian dài, ung thư cổ tử cung là cơn ác mộng đối với phụ nữ, không chỉ do bệnh diễn tiến thầm lặng rất khó phát hiện mà còn vì tỉ lệ tử vong và số lượng bệnh nhân.

Gần đây các nhà khoa học đã xác định nguyên nhân của hầu hết các dạng ung thư cổ tử cung là Human Papilloma Virus (HPV) - virus gây u nhú ở người.

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung là HPV týp 16 và 18 . Hiện, trên thế giới có đến 630 triệu người bị nhiễm HPV.

Điều đáng sợ nhất là HPV diễn tiến thầm lặng, không có triệu chứng rõ ràng và khi triệu chứng xuất hiện thì bệnh đã tiến triển. Lúc này bệnh trở nặng và tiến triển nhanh chóng không thể kiểm soát nổi.

Do các dấu hiệu tiền ung thư và ung thư giai đoạn đầu ở cổ tử cung không gây đau đớn hay có triệu chứng rõ rệt, nên thường xuyên xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (Pap test) là cần thiết để phòng ung thư cổ tử cung. Hiện các vaccin phòng HPV cổ tử cung đã có ở Việt Nam. Lứa tuổi phù hợp để tiêm loại vaccin này là từ 12 đến 26 tuổi, vaccin sẽ có hiệu quả tốt hơn nếu người được tiêm chưa quan hệ tình dục. Tuy nhiên kể cả vaccin chỉ phòng ngừa được 70 % nguy cơ ung thư mà thôi, chính vì vậy việc đi làm xét nghiệm Pap nên được làm định kỳ ở những phụ nữ đã có quan hệ tình dục.

Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán sớm ung thư nói chung và ung thư cổ tử cung nói riêng, các bệnh viện phụ sản lớn ở Việt Nam như Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Hùng Vương chính thức đưa áp dụng phương pháp xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung Thinprep Pap Test vào phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện. Thinprep Pap Test được Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chứng nhận từ tháng 5/1996. Phương pháp này hiện đang được sử dụng phổ biến tại Mỹ, châu u cũng như các nước trong khu vực. Thinprep có nhiều ưu điểm vượt trội như làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong phát hiện các tế bào tiền ung thư, đặc biệt là các tế bào biểu mô tuyến, một loại tế bào ung thư rất khó phát hiện. Theo các nghiên cứu, phương pháp Thinprep giúp tăng 55% số phát hiện tế bào nguy cơ ung thư cao so với phương pháp Pap truyền thống. Phương pháp Thinprep đồng thời mang lại sự cải thiện rõ rệt về tính đồng đều tế bào trong công đoạn lấy mẫu, giúp việc phát hiện các tổn thương tế bào tiền xâm nhập trong các nhóm bệnh nhân tới khám tại bệnh viện, cũng như kết quả sàng lọc trong cộng đồng.

Khi áp dụng phương pháp Thinprep sẽ giúp giảm đáng kể tỷ lệ xét nghiệm âm tính giả, đặc biệt tăng tỉ lệ phát hiện các tổn thương của tế bào biểu mô tuyến, giúp chẩn đoán chính xác giai đoạn sớm, mang lại hiệu quả điều trị cao, giảm chi phí điều trị giảm tỷ lệ tử vong và nâng cao hiệu quả xã hội.           

BS. Huỳnh Xuân Nghiêm

(Bệnh viện Hùng Vương)

Chuyên đề tìm hiểu về lạc nội mạc tử cung – kỳ 5

Hỏi: Tôi lấy chồng đã lâu nhưng chưa có con, đi khám  bác sĩ cho biết bị  lạc nội mạc tử cung ở cùng đồ (tôi không hề có bất kỳ biểu hiện nà...