Hiển thị các bài đăng có nhãn hung 14. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hung 14. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2001

Chuyên đề tìm hiểu về lạc nội mạc tử cung – kỳ 5

Hỏi: Tôi lấy chồng đã lâu nhưng chưa có con, đi khám  bác sĩ cho biết bị  lạc nội mạc tử cung ở cùng đồ (tôi không hề có bất kỳ biểu hiện nào như bác sĩ nói về bệnh này). Sau đó được 5 tháng, tôi có thai nhưng thai bị hỏng, từ đó đến nay đã hơn 2 năm mà tôi vẫn chưa thể có thai lại. Tôi rất buồn, xin bác sĩ tư vấn giúp phải điều trị như thế nào?

(Trịnh Mai Huệ- Hải Phòng)

Trả lời: Chị nói chị bị lạc nội mạc tử cung ở cùng đồ, nhưng không nói rõ là bác sĩ có thăm khám âm đạo cho chị không, hơn nữa chị lại không có các biểu hiện ở người bệnh mắc lạc nội mạc tử cung, nên rất khó để tôi có thể xác định bác sĩ đó chẩn đoán đúng hay sai bệnh tình của chị.

 Ảnh minh họa

Nếu bị lạc nội mạc tử cung, khi thăm khám, bác sĩ sẽ thấy ở bên cạnh tử cung hay ở cùng đồ sau những nốt sần sùi, hay thấy nang buồng trứng gồ ghề, thậm chí có thể thấy ở cổ tử cung có những điểm màu nâu như sôcôla…

Lạc nội mạc tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến vô sinh. Về lý thuyết, 10- 15 % phụ nữ vô sinh có lạc nội mạc tử cung. Nhưng ngược lại, phụ nữ vô sinh thì từ 45-50% là do lạc nội mạc tử cung. Nếu lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng sẽ ảnh hưởng đến khâu phóng noãn (làm cho trứng không lớn lên được). Nếu lạc nội mạc tử cung ở vòi tử cung dẫn đến tắc thì lại càng khó khăn hơn cho việc có thai.

Vì lạc nội mạc tử cung có từ 45-50% trường hợp là không thể có thai, nên chị rơi vào 50% còn lại (tức là vẫn có thể có thai). Đặc biệt, chị không bị lạc nội mạc tử cung ở vòi và buồng trứng nên chị vẫn có thể thụ thai bình thường.

Tuy nhiên, đã hơn 2 năm nay, chị chưa mang thai lại nên chị cần sớm đi khám để cho kết quả chính xác và tìm cách khắc phục. Có thể khi bị hỏng thai lần trước, chị đi hút, nạo gây dính tắc vòi, hoặc cũng có thể lạc nội mạc tử cung  giờ đã di chuyển gây tắc vòi tử cung….

Nếu vẫn còn khối lạc nội mạc tử cung, tôi xin chia sẻ với chị thông tin về một sản phẩm thảo dược đã được sử dụng rộng rãi trên thị trường để hỗ trợ điều trị lạc nội mạc tử cung, đó là Phụ Lạc Cao. Sản phẩm có thành phần: Đan sâm, nga truật…. giúp ngăn chặn sự “đi lạc” của nội mạc tử cung, điều hòa khí huyết, từ đó hỗ trợ điều trị, phòng ngừa hiệu quả đau bụng dưới dữ dội trong kỳ kinh và vô sinh do lạc nội mạc tử cung, rất phù hợp cho trường hợp của chị. Bên cạnh đó, Phụ Lạc Cao cũng được sử dụng tại hơn 600 bệnh viện của Trung Quốc cho kết quả tốt, và đã được báo cáo tại Bệnh viện phụ sản TW thời gian vừa qua, vì vậy chị có thể yên tâm sử dụng. Thân ái!

Hỏi: Vợ tôi bị lạc nội mạc tử cung đã phẫu thuật một lần và phải tiêm cả thuốc nội tiết. Xin hỏi bệnh này có hay tái phát không? Vợ tôi phải làm gì để ngăn chặn bệnh tái phát?

 

(Bùi Thế Anh- Hà Nội)

Trả lời: Không nói rõ vợ bạn phẫu thuật từ bao giờ, điều trị thuốc nội tiết kết hợp sau phẫu thuật trong khoảng thời gian bao lâu, phẫu thuật nội soi hay phẫu thuật mở….. nên rất khó để tôi có thể tư vấn cụ thể cho vợ của bạn.

Mọi thông tin cần tư vấn về sức khỏe xin gửi tới địa chỉ email: homthutuvansuckhoe@gmail.com

Điện thoại: 04 38461530 – 08 39770045.

  

Trong trường hợp vợ của bạn chưa được phẫu thuật triệt để thì vẫn có khả năng bị tái phát lạc nội mạc tử cung. Để ngăn điều này, trước tiên bạn phải cho vợ đi khám lại xem có còn khối lạc nội mạc tử cung hay không thông qua siêu âm, thăm khám lâm sàng. Tốt nhất bạn nên đưa vợ đến đúng nơi đã phẫu thuật trước kia. Tuy nhiên, tôi xin khẳng định, tái phát lạc nội mạc tử cung sau phẫu thuật là điều phổ biến. Chỉ cần một chu kỳ kinh nguyệt có trào ngược máu kinh vào ổ bụng là có thể bị lạc nội mạc tử cung. Nếu được dùng nội tiết hợp lý sau phẫu thuật thì thời gian bị tái phát trở lại sẽ lâu hơn và giảm đi số lần tái phát.

Để phòng ngừa tái phát, tôi xin chia sẻ một thông tin có thể giúp ích cho bệnh tình của vợ anh trong kiểm soát căn bệnh này đó là gần đây trên thị trường xuất hiện sản phẩm Phụ Lạc Cao. Với các thành phần từ những dược liệu quý, Phụ Lạc Cao có tác dụng hỗ trợ điều trị, ngăn ngừa khối nội mạc tử cung tái phát, giảm đau bụng dưới khi hành kinh và vô sinh do lạc nội mạc tử cung, bên cạnh đó là điều hòa khí huyết và kinh nguyệt…. thích hợp cho những bệnh nhân phòng ngừa tái phát lạc nội mạc tử cung như vợ anh. Đó là điều mà giáo sư Vương Hồng Tĩnh của Trung Quốc đã báo cáo tại bệnh viện phụ sản TW vừa qua. Thân ái!

 GS. TS Nguyễn Đức Vy - Chủ tịch Hội sản phụ khoa Việt Nam

Dấu hiệu dọa sảy thai

Dọa sảy thai (động thai) thường gặp ở những tuần lễ đầu của thai kỳ. Nguyên nhân có thể là sự bất thường về nhiễm sắc thể, bất đồng nhóm máu giữa mẹ và thai, một số bệnh của mẹ như sốt cao, suy tim, bệnh thận mạn tính, mất cân bằng nội tiết, các bệnh về tử cung (viêm nhiễm cổ tử cung, u tử cung, ung thư cổ tử cung, tử cung co rút khác thường), thai phụ bị suy nhược, làm việc quá sức, chế độ nghỉ ngơi không hợp lí, ăn uống thiếu dưỡng chất,...

Dấu hiệu dọa sảy thai

Dấu hiệu đầu tiên là đau bụng, thai phụ cảm thấy hơi đau tức ở bụng dưới và mỏi ở vùng thắt lưng, có thể có ít dịch màu hồng nhạt hoặc vài giọt máu chảy ra ở âm đạo...

Thai phụ cần đến ngay cơ sở y tế để khám nếu thấy có dấu hiệu dọa sảy thai.

Phân biệt dọa sảy thai với sảy thai thực sự

Cần lưu ý các triệu chứng phân biệt dọa sảy thai với sảy thai thực sự hoặc thai lưu:

Dọa sảy thai: Thường có xuất huyết âm đạo và đau bụng. Thai nhi vẫn còn sống và chưa bị đẩy ra khỏi buồng tử cung.

Sảy thai: Thai nhi đã chết và đang được đẩy ra ngoài. Có thể là sảy thai hoàn toàn và không hoàn toàn.

Sảy thai hoàn toàn: Toàn bộ thai nhi và nhau thai cùng bị tống ra một lúc. Bụng hết đau nhưng máu vẫn có thể tiếp tục rỉ ra như kinh nguyệt.

Sảy thai không hoàn toàn: Một phần của thai và nhau thai vẫn còn trong tử cung. Bụng bớt đau hơn nhưng máu âm đạo vẫn chảy liên tục, thậm chí có thể bị băng huyết.

Thai lưu: Thai nhi đã chết nhưng còn lưu lại trong tử cung chưa bị đẩy ra ngoài. Thai phụ không còn triệu chứng thai nghén, có máu đen ra ở âm đạo nhưng không đau bụng. Thai lưu trong tử cung một thời gian có thể tự sảy ra như các trường hợp sảy thai khác.

Làm gì khi có dấu hiệu dọa sảy thai?

Thai phụ nếu thấy có các dấu hiệu dọa sảy thai trước tiên cần nằm nghỉ ngơi, hạn chế đi lại, tránh xoa bóp bụng, kiêng giao hợp tuyệt đối và cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa sản để các bác sĩ kiểm tra và có chỉ định dùng thuốc giảm cơn co tử cung tránh sảy thai.

Phòng ngừa sảy thai

Khi có thai cần ăn uống đủ chất dinh dưỡng để đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ và sự phát triển của thai nhi. Uống bổ sung viên sắt và axit folic theo hướng dẫn của bác sĩ. Không hút thuốc lá và uống các đồ uống có cồn, chất kích thích như bia, rượu, cà phê,... Có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Không nên lao động nặng và giao hợp nhiều trong những tháng đầu và tháng cuối mang thai. Luôn giữ tâm lý thoải mái, tránh căng thẳng. Luyện tập thể dục nhẹ nhàng để tăng cường sức khoẻ. Điều quan trọng là thai phụ cần đi khám và theo dõi thai định kỳ, nếu có vấn đề về sức khoẻ phải đến ngay cơ sở y tế để các bác sĩ khám, tư vấn, điều trị để bảo vệ sức khoẻ của mẹ và sự phát triển của thai nhi.     

BS. Thu Lan 

Ngừa thai sau khi sinh và cho con bú

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo, phụ nữ nên trì hoãn mang thai ít nhất hai năm sau khi sinh nhằm có lợi cho sức khỏe cả mẹ lẫn con. Trong thời gian này người mẹ có thời gian chăm sóc và nuôi dưỡng con được tốt. Để có được sự trì hoãn, người phụ nữ phải sử dụng phương pháp tránh thai.

Sau khi sinh cơ thể người phụ nữ trở về bình thường vào tuần lễ thứ 6. Hiện tượng có kinh trở lại tùy thuộc vào việc cho con bú hay không cho con bú. Phụ nữ cho con bú sự ra kinh từ tháng thứ 6 trở đi, ngược lại không cho con bú có thể có kinh trở lại vào tuần lễ thứ 3 - 4 sau sinh, ban đầu là sự ra kinh non, sau 3 tháng vòng kinh ổn định. Hiện tượng trứng rụng có thể xảy ra trước khi có kinh.

 Ảnh minh họa
Phương pháp tránh thai mẹ cho con bú

Phương pháp tự nhiên đó là con bú vô kinh.

Cho con bú vô kinh là một phương pháp tránh thai mà tận dụng hiệu quả tránh thai tự nhiên của sữa (sữa mẹ). Người mẹ cho con bú làm gia tăng nồng độ prolactin. Khi prolactin tăng trong máu sẽ ngăn chặn sự rụng trứng và làm như vậy ngăn ngừa mang thai. Phụ nữ cho con bú hoàn toàn thường không rụng trứng trong ít nhất 6 tháng sau khi sinh con và tiếp tục cho con bú trong 12 tháng sau khi sinh con, không trở về rụng trứng (do đó bảo vệ khỏi mang thai) trong thời gian này.

Hiệu quả của phương pháp này theo Kennedy (1998) đạt 98% trong vòng 6 tháng đầu tiên cho con bú. Cần khuyến khích các bà mẹ sau sinh cho con bú liền và tiếp tục cho con bú hoàn toàn bú cả ngày lẫn đêm, trong vòng 12 tháng đầu đời của bé. Tuy nhiên phương pháp tự nhiên cho con bú vô kinh không áp dụng cho những trường hợp: mẹ nhiễm HIV, có HbsAg dương tính mà bé chưa được tiêm ngừa, nhiễm trùng tuyến vú; mẹ đang sử dụng thuốc mà có hại cho bé; mẹ có thai trở lại mà chưa thấy có kinh.

Phương pháp này cần kết hợp một phương pháp tránh thai khác khi: mẹ cho con bú không hoàn toàn nghĩa là ngày mẹ mắc đi làm; bé chỉ được bú mẹ lúc tối và đêm, hay cho bú không thường xuyên; mẹ có kinh trở lại.

Các phương pháp khác

- Bao cao su: sử dụng ngay lập tức ở mọi thời điểm. Bao cao su có hai loại, loại dành cho nam giới (thường dùng) và cho nữ giới (ít dùng). Ngoài ưu điểm ngừa thai, bao cao su còn ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục và không ảnh hưởng sữa mẹ.

- Vòng tránh thai: áp dụng khi có kinh trở lại, thời điểm đặt vòng tránh thai vào ngày thứ 3 hay thứ 4 của sự ra kinh. Vòng tránh thai có hai loại: chứa đồng và loại chứa levonorgestrel. Vòng tránh thai có tác dụng 5 năm, không ảnh hưởng sữa mẹ. Nhược điểm của phương pháp này là không phòng tránh được sự lây nhiễm khi quan hệ.

- Thuốc ngừa thai chỉ có progestin: áp dụng khi có kinh trở lại, sử dụng viên thuốc đầu tiên lúc có kinh và uống liên tục mỗi ngày 1 viên theo số thứ tự trên vỉ thuốc. Trên thị trường hiện nay, thuốc biệt dược Embevin 28 có hàm lượng desogestrel 0,075 mg/viên có tác dụng ngừa thai cao 97 - 98 %, không ảnh hưởng sữa mẹ. Thuốc ngừa thai không sử dụng được cho những bà mẹ dị ứng với thuốc, suy gan, suy thận bệnh lý về máu, viêm tắc tĩnh mạch. Không phòng tránh được các bệnh lây nhiễm. Ngoài ra còn sử dụng loại que cấy đơn thuần có progestin, thuốc có tác dụng kéo dài mỗi 3 tháng.

 Thuốc ngừa thai uống mỗi ngày theo thứ tự trên vỉ thuốc
- Dụng cụ ngăn cản sự thụ thai, bao gồm màng ngăn âm đạo hay mũ chụp cổ tử cung: các phương pháp cũng được áp dụng nhưng nhược điểm cần phải đặt màng ngăn âm đạo hay đặt mũ chụp cổ tử cung trước khi quan hệ 10 phút.

- Thắt vòi trứng: đây là phương pháp đình sản, được áp dụng cho các bà mẹ không muốn sinh nữa. Phương pháp này áp dụng sau khi sinh 24 giờ đầu hay 6 tuần lễ đầu sau sinh, là phương pháp phẫu thuật nhỏ, được thực hiện tại cơ sở y tế chuyên khoa, không ảnh hưởng việc cho con bú.

Ngoài ra lý do nào đó mà việc cho con bú không thành, các bà mẹ có thể áp dụng ngay các phương pháp ngừa thai vào tuần lễ thứ 6 sau khi sinh.

Có thể áp dụng một trong 5 phương pháp ngừa thai nói trên. Trước khi quyết định các phương pháp ngừa thai, cần đi khám phụ khoa lại để được bác sĩ tư vấn cụ thể.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Viêm nội mạc tử cung

Viêm nội mạc tử cung là tình trạng viêm nhiễm xảy ra trong buồng tử cung, do vi khuẩn, nấm hay ký sinh trùng gây ra. Nguyên nhân gây viêm nội mạc tử cung thường do mầm bệnh lan truyền từ dưới lên như viêm cổ tử cung, viêm âm đạo. Mầm bệnh thường gặp nhất là lậu cầu, chlamydia.

Nội mạc tử cung là gì?

Mặt trong thành tử cung có một lớp niêm mạcbao phủ được gọi là nội mạc tử cung.Nội mạc tử cung được cấu tạo bởi hai thành phần: tế bào biểu mô trụ tuyến và mô đệm, gồm 2 lớp: Lớp nội mạc căn bản (lớp đáy): mỏng, không thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, mang phần đáy của các ống tuyến. Lớp nội mạc tuyến (lớp nông): hoạt động chịu nhiều biến đổi trong chu kỳ kinh nguyệt:

Hàng tháng,dưới tác dụng của hormon sinh dục nữ,nội mạc tử cung phát triển dày lên để sẵn sàng nhận trứng thụ tinh làm tổ.Khi sự thụ tinh không diễn ra,nội mạc tử cung sẽ tự bongra và gây chảy máu hay còn gọi là hành kinh.

Trong thời gian mang thai, lớp này phản ứng do sự thay đổi nội tiết, nội mạc tử cung dày lên và trở thành lớp rất đặc biệt là màng rụng, cho phép phôi làm tổ và nhau thai phát triển.

Biểu hiện khi nội mạc tử cung bị viêm?

Khi nội mạc tử cung mới bắt đầu bị viêm người bệnh thấy các biểu hiện như: đau bụng dưới rốn, sốt, khí hư ra nhiều như mủ, đặc, màu xanh...

Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng có thể gây ra biến chứng nguy hiểm như viêm phần phụ hoặc nhiễm khuẩn huyết.

Người bệnh cần làm gì?

Khi có các biểu hiện như trên người bệnh nên đến ngay cơ sở y tế để các bác sĩ chuyên khoa khám xét nghiệm tìm nguyên nhân và có chỉ định điều trị thích hợp. Đặc biệt cần chú ý nguyên nhân gây viêm nội mạc tử cung thường do viêm âm đạo, viêm cổ tử cung nên chị em phụ nữ khi thấy một trong những dấu hiệu của viêm âm đạo như ra khí hư (số lượng ít hoặc nhiều, loãng hoặc đặc, màu trong, đục hoặc màu vàng, mùi hôi hoặc không hôi), ngứa ngáy khó chịu, đau khi giao hợp, đái buốt,... cần đi khám để được điều trị triệt để tránh dẫn đến viêm nội mạc tử cung. Người bệnh không nên tự ý điều trị vì có thể làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn và khóchữa khỏi hoàn toàn.

Bác sĩ Thu Lan

Sinh khó

Danh từ sinh khó dùng để mô tả những cuộc chuyển dạ bất thường hoặc khó khăn, là một chẩn đoán bao trùm lên những hoàn cảnh khác nhau về những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình chuyển dạ.

Không thể đánh giá chính xác tỷ lệ sinh khó trong chuyển dạ được, bởi vì sự chẩn đoán phụ thuộc vào kết quả của cuộc sinh nhưng sinh khó chiếm 80% những chỉ định mổ lấy thai. Nguyên nhân sinh khó có thể do mẹ, động lực của cơn co tử cung, do thai nhi. Thực tế khi xác định sinh khó tùy thuộc vào nguyên nhân gây sinh khó, khả năng tay nghề của thầy thuốc và kinh nghiệm lâm sàng mà có hướng xử trí hợp lý cho sản phụ sinh ngả âm đạo hay sinh mổ.

Sinh khó do cơn gò tử cung tăng

Cơn gò tử cung trong chuyển dạ không do sản phụ điều khiển, bình thường cơn gò tử cung diễn tiến nhịp nhàng, lúc co, lúc nghỉ. Nhịp độ của những cơn gò cũng thay đổi qua từng giai đoạn của chuyển dạ. Hiệu quả của cơn gò đưa đến sự xóa mở cổ tử cung mà cuối cùng là sự tống xuất thai nhi.

Khi cơn gò tăng do chướng ngại vật cản lối ra của thai nhi, thai to, chuyển dạ kéo dài, dùng thuốc tăng gò không đúng kỹ thuật, làm ảnh hưởng đến chuyển dạ; khi cơn gò dồn dập làm thai xổ quá nhanh, đưa đến rách cổ tử cung, rách âm đạo, có thể vỡ tử cung. Thai nhi dễ bị suy, tổn thương não. Sau sinh dễ băng huyết.

Vấn đề chẩn đoán nguyên nhân rất quan trọng, phải xác định do nguyên nhân cơ học hay không, như khung chậu hẹp, u tiền đạo, ngôi bất thường, nếu có phải mổ lấy thai. Sau khi loại bỏ nguyên nhân cơ học sẽ điều trị bằng thuốc giảm gò tử cung. Nếu điều trị thuốc không kết quả thì mổ lấy thai để tránh suy thai.

 Ảnh minh họa
Sinh khó do cơn gò tử cung giảm

Biểu hiện cơn gò thưa và cường độ các cơn gò yếu, trương lực cơ tử cung giảm. Nguyên nhân ở sản phụ cơ địa yếu, suy nhược, thiếu máu, suy tim, lao hay sử dụng thuốc an thần, mất nước, mệt, đói. Nguyên nhân thứ phát gặp như: đa thai, đa ối, có kèm u xơ tử cung, chuyển dạ kéo dài.

Khi cơn gò tử cung giảm làm cho sự xóa mở cổ tử cung chậm, suy thai, nhiễm trùng ối.

Điều trị tùy theo nguyên nhân, nếu cơn gò giảm do đa ối, nên tia ối cho ra bớt ối. Sau khi tử cung trở về dung tích bình thường, tử cung sẽ co bóp đều và hiệu quả. Trường hợp do suy nhược, thể trạng sản phụ kém, cần hồi sức và cho thuốc oxytocin tăng cường co bóp tử cung. Tùy hoàn cảnh và nguyên nhân mà chúng ta có cách xử trí hiệu quả, một khi không kết quả nên mổ lấy thai, để tránh suy thai và băng huyết sau sinh.

Sinh khó do khung chậu

Khung chậu là một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong sản khoa, vì ngôi thai từ trong tử cung muốn sinh ra được theo ngả âm đạo phải chui lọt qua được lòng khung chậu. Một khung chậu có đường kính giới hạn, hẹp hay khung chậu biến dạng là nguyên nhân của sinh khó, nhiều khi phải xử trí bằng mổ lấy thai. Vì vậy, đánh giá khung chậu bằng cách đo đạc, ước lượng kích thước của khung chậu là sự cần thiết để tiên lượng cuộc sinh.

Khung chậu ở sản phụ được cấu tạo bởi 4 xương và chia làm hai phần đại khung ở trên và tiểu khung ở dưới, trong sản khoa phần tiểu khung đóng vai trò quan trọng hơn vì thai nhi chui qua phần tiểu khung. Do vậy, sinh khó do khung chậu thường đề cập đến phần tiểu khung. Trong sinh khó gây ra bởi khung chậu, có thể là nguyên nhân một phần của khung chậu hẹp hay toàn bộ khung chậu hẹp.

Nguyên nhân khung chậu hẹp hay biến dạng có thể do bẩm sinh hoặc do hậu quả của một quá trình phát triển bị rối loạn do yếu tố dinh dưỡng, còi xương, nhuyễn xương, bệnh ở cột sống, bệnh ở xương chậu, trật khớp háng. Ảnh hưởng của khung chậu hẹp lên thai kỳ như: thay đổi vị thế tử cung, làm ngôi thai bất thường vào giai đoạn chuyển dạ gây chuyển dạ kéo dài, cơn gò bất thường, vỡ tử cung và suy thai.

Tùy theo mối tương quan trọng lượng thai, đường kính khung chậu của người mẹ và ngôi thai mà bác sĩ chuyên khoa đánh giá, tiên lượng để quyết định cho sinh ngả âm đạo hay phải mổ lấy thai, với kết quả sau cùng an toàn mẹ và con.

Sinh khó do phần mềm của mẹ

Các phần mềm của mẹ có thể gây sinh khó gồm: âm hộ và tầng sinh môn, âm đạo, cổ tử cung, tử cung.

m hộ và tầng sinh môn gây ra sinh khó là do đề kháng bất thường của màng trinh, tầng sinh môn quá rắn chắc ở sản phụ con so lớn tuổi. Trong trường hợp này không có chỉ định mổ lấy thai, mà khi giai đoạn xổ thai ta có thể cắt rộng tầng sinh môn cả hai, bên trái và bên phải. m hộ có khối u, nếu là u sùi mồng gà bắt buộc chỉ định mổ lấy thai, còn các loại u khác có thể sinh ngả âm đạo.

Sinh khó do âm đạo thường gặp âm đạo có sẹo vách ngăn, u âm đạo hay âm đạo hẹp do sẹo hay bẩm sinh. Tùy từng nguyên nhân mà bác sĩ chuyên khoa có hướng xử trí thích hợp sinh ngả âm đạo trong các trường hợp sẹo vách ngăn, cắt vách ngăn, u nhỏ có thể bóc u. Chỉ định mổ lấy thai đối với trường hợp âm đạo hẹp, u lớn.

Sinh khó do cổ tử cung rất thường gặp trong sản khoa, xuất hiện sau các bất thường của các cơn gò tử cung, cổ tử cung cứng phù nề, ngoài ra cổ tử cung có sẹo, dính hay u cổ tử cung, tùy thuộc vào nguyên nhân mà chúng ta có cách giải quyết tốt.

Sinh khó do tử cung, gặp trong tử cung đôi, tử cung có sẹo mổ bóc nhân xơ, sẹo mổ lấy thai cũ. Trong các nguyên nhân tùy thuộc vào tình trạng thai kỳ này, ước lượng cân thai, ngôi thai mà bác sĩ chuyên khoa đánh giá cần phải mổ hay là cho sinh ngả âm đạo.

Sinh khó do thai to

Sự sinh một thai to thường khó khăn và nguy hiểm cho cả thai nhi lẫn người mẹ trong lúc chuyển dạ và xổ thai. Sinh khó do thai to có thể do thai to toàn phần hoặc to từng phần của cơ thể như trong trường hợp não úng thủy, bụng to, bụng cóc, thai phù toàn thân. Thai to toàn phần khi thai nhi cân nặng từ 4kg trở lên khi tới ngày sinh, sự to lớn này bao gồm toàn thể thai nhi. Sinh khó trong thai to có tính cách tương đối vì tùy mức độ mất cân xứng giữa thai nhi to và khung chậu của mẹ. Thai nhi to thường đường kính mỏm vai lớn hơn 12cm và sự sinh khó thường do vai thai nhi.

Xử trí, trong những trường hợp biết chắc chắn thai to, hoặc trường hợp ngôi thai bất thường như: ngôi mặt, ngôi trán hay ngôi ngang thì có chỉ định mổ lấy thai, không nên để suy thai, nhiễm trùng ối rồi mới mổ. Những trường hợp thai nhi to từng phần, tùy thuộc vào điều kiện, khả năng sống được của thai nhi, tương xứng thai mà bác sĩ chuyên khoa có cách xử trí thích hợp.

Tóm lại: sinh khó là một chương trong bệnh lý sản thường gặp nhất. Quá trình chuyển dạ sinh là giai đoạn sau cùng của sự mang thai sau 9 tháng 10 ngày ở người mẹ. Việc đánh giá của từng trường hợp, đòi hỏi bác sĩ sản khoa có sự quyết đoán chính xác và xử trí kịp thời để có kết quả mong muốn mẹ khỏe con khỏe.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

U nang tuyến bartholin

Tuyến Bartholin ở phụ nữ nằm ở dưới da phía trong hai bên âm đạo, có kích thước chỉ nhỏ bằng hạt đỗ. Các tuyến này còn nằm ở dưới da xung quanh môi âm hộ và trong đường tiết niệu. U nang tuyến Bartholin là hiện tượng bị nghẽn ống dẫn và ở trong tuyến chứa đầy dịch nhờn. Các nang tuyến Bartholin có kích thước rất khác nhau, có thể chỉ như một hòn bi nhỏ nhưng cũng có thể to như một quả cam. Các u này thường phát triển chậm. Khi tuyến hoặc ống Bartholin bị nhiễm trùng thì được gọi là áp xe tuyến Bartholin. Rất ít khi cả hai tuyến Bartholin bị nhiễm trùng cùng một lúc.

Nguyên nhân gây ra các nang tuyến Bartholin

Viêm nhiễm đường sinh dục, hoặc chất nhầy quá đặc cũng có thể làm tắc ống Bartholin. Khi bị tắc chất nhầy ứ lại bên trong và tạo ra u nang Bartholin. Kích thích tình dục làm tiết nhiều chất nhờn lại càng làm cho các nang to nhanh thêm. Đôi khi các tuyến Bartholin bị nhiễm trùng là do các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Có thể giảm nguy cơ nhiễm trùng bằng cách sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.

 Tư vấn sức khỏe vị thành niên tại Ngôi nhà Tuổi trẻ (Thanh Xuân - Hà Nội). Ảnh: HNM
Triệu chứng

U nang tuyến Bartholin thường gặp ở phụ nữ từ 20-29 tuổi. Nếu tuyến Bartholin không bị nhiễm trùng, triệu chứng phổ biến nhất là có các nốt nhỏ nhưng không đau. Một số có thể tự tiêu mà không cần có tác động gì. Bạn có thể nhận ra những vết đỏ phồng lên ở vùng âm hộ. Các nang có thể phồng lên với kích thước từ 0,64cm - 7,62cm. Người bệnh có thể tự mình phát hiện được hoặc được phát hiện trong khi thăm khám sức khỏe.

Nếu tuyến Bartholin bị viêm, tuyến sẽ không tiết nhờn làm cho đau rát khi giao hợp và kích thích bàng quang nên dễ bị rối loạn tiểu tiện. Khi u Bartholin bị nhiễm trùng sẽ tạo thành một ổ áp xe to nhanh trong khoảng 2- 4 ngày và thường rất đau, thậm chí đi lại hay ngồi cũng đau.

Điều trị thế nào?

Khi thấy có những biểu hiện của u nang tuyến Bartholin, người bệnh cần nhanh chóng đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn và điều trị thích hợp. Đối với một u nang Bartholin khi đã to có thể gây triệu chứng thường được tháo dịch ra và người ta thường đặt một ống dẫn lưu trong vài tuần, khi lành các môi âm đạo vẫn mở được bình thường như cũ. Liệu pháp này là để ngăn các nang tái phát. Sau phẫu thuật, khi về nhà bệnh nhân có thể dùng thuốc giảm đau theo chỉ định của bác sĩ. Để chóng khỏi, cần giữ vệ sinh, khi rửa nên cẩn thận và không hoạt động tình dục khi vết thương chưa lành hẳn.  

 Bác sĩ Bùi Phương

Chuyên đề tìm hiểu về lạc nội mạc tử cung – kỳ 6

Câu hỏi: Các dấu hiệu của bệnh lạc nội mạc tử cung là gì? Hiện tại kinh nguyệt của tôi không đều, có kinh thỉnh thoảng đau bụng, kinh nguyệt kéo dài khoảng một tuần. Có phải tôi đang bị bệnh lạc nội mạc tử cung không? Có sản phẩm nào giúp phòng bệnh lạc nội mạc tử cung không, thưa bác sĩ? (Nguyễn Kim A.- Hà Nam)

Trả lời: Trước hết, xin giải thích rõ lạc nội mạc tử cung được gây ra bởi các yếu tố: trào ngược kinh nguyệt (khi có kinh tử cung co bóp, máu kinh mang theo niêm mạc tử cung trào ngược qua vòi tử cung vào ổ bụng, dẫn đến cấy ghép niêm mạc tử cung vào tiểu khung của người bệnh); thứ hai là di truyền (vấn đề này vẫn còn đang được nghiên cứu nhưng thường nếu người mẹ bị thì con gái cũng rất hay bị giống mẹ); thứ ba do yếu tố về nhiễm sắc thể của cá thể đưa đến lạc nội mạc tử cung; hoặc cũng có thể do các thủ thuật về sản phụ khoa: đỡ đẻ rách tầng sinh môn, nạo hút thai…..những can thiệp này làm niêm mạc tử cung bị di chuyển sang những khu vực khác gây bệnh lạc nội mạc tử cung…. Và còn những nguyên nhân phát tán chưa biết được (vì có cả một tỉ lệ nhỏ lạc nội mạc tử cung ở cả não, gan, phổi..)

 Ảnh minh họa
Về dấu hiệu, khi bị lạc nội mạc tử cung  bệnh nhân thường đau bụng dữ dội khi có kinh (chiếm đến 80- 90% các trường hợp). Cũng xin được làm rõ thêm ở người phụ nữ bình thường thì bị đau bụng trước hành kinh (để báo có kinh), còn bệnh nhân lạc nội mạc tử cung thì đau trong suốt thời gian có kinh nguyệt, đau nhiều, đau quằn quại không chịu nổi phải uống thuốc giảm đau. Bên cạnh đó, người bệnh còn thấy đau trong khi quan hệ vợ chồng. Kinh nguyệt rối loạn, thất thường nếu như có lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng…

Do đó, những triệu chứng của chị như trên là một số biểu hiện của lạc nội mạc tử cung, nhưng để khẳng định chắc chắn, chị cần đến các cơ sở phụ khoa để khám cụ thể. Khi đó, qua thăm dò bằng chụp, siêu âm, xét nghiệm…thầy thuốc sẽ trả lời cụ thể cũng như có hướng điều trị sớm.

Về sản phẩm giúp phòng và hỗ trợ điều trị lạc nội mạc tử cung, xin chia sẻ với chị, gần đây tại một Hội thảo khoa học các bác sĩ đã trao đổi về một phương pháp hoàn toàn mới trong hỗ trợ điều trị và phòng ngừa lạc nội mạc tử cung đó là Phụ Lạc Cao. Sản phẩm này chứa các thành phần thảo dược như: Đan sâm, Nga truật…. có tác dụng đối với chứng viêm, phù nề khoang bụng sau phẫu thuật, giúp điều hòa miễn dịch, kinh nguyệt và khí huyết, nhờ đó cơ thể phụ nữ trở nên khỏe mạnh hơn. Đặc biệt, hữu ích cho bệnh nhân đau bụng dưới dữ dội trong kỳ kinh và vô sinh do lạc nội mạc tử cung.

Mọi thông tin cần tư vấn về sức khỏe xin gửi tới địa chỉ email: homthutuvansuckhoe@gmail.com

Điện thoại: 04 38461530 – 08 39770045.

Ngoài ra, trong thông báo mới tháng 12 năm 2009 của Liên đoàn phụ sản quốc tế (FIGO) và Liên đoàn sản phụ khoa Châu Á và Châu đại dương (AOCOG) trong việc dùng thuốc Dienogest 2mg/ 24h (mỗi ngày)- (dùng từ 24 đến 52 tuần lễ) của các tác giả Nhật Bản đã có kết quả tốt. Dùng 24 tuần kết quả tốt đạt 72,5%, và dùng 52 tuần kết quả tốt đạt đến 96,2%. Đây là một hướng điều trị rất mới sẽ dần được sử dụng ở Việt Nam vì đây là dạng nội tiết tố nam có tên gọi 19 Nor- Testosteron.

Hỏi: Tôi bị lạc nội mạc tử cung đã phẫu thuật một lần và tiêm một đợt Diphereline nhưng cứ  tiêm là 3 tháng mới thấy kinh trở lại, hiện ở buồng trứng trái  có một  khối lạc nội mạc tử cung kích thước 4,4mm. Hiện nay kinh nguyệt tôi không đều (từ 27 - 35 ngày). Tôi nên điều trị như thế nào? (Lê Thu T.- Bình Định)

Trả lời: Chị đang bị khối lạc nội mạc tử cung kích thước 4.4 mm ở buồng trứng trái. Đây là một khối lạc nội mạc tử cung tương đối nhỏ, tuy nhiên, nó vẫn ảnh hưởng đến việc phóng noãn của buồng trứng và sự lớn lên vượt trội của nang noãn cũng như việc điều tiết các nội tiết gây kinh nguyệt hàng tháng.

Hiện tại, vấn đề cơ bản của chị là kinh nguyệt không đều (từ 27- 35 ngày), nên để có phương pháp điều trị thích hợp, chị nên đến khám  lại tại nơi đã thực hiện phẫu thuật khi trước. Nếu có điều kiện, chị có thể đến khám tại Bệnh viện phụ sản Từ Dũ hoặc Bệnh viện phụ sản Hùng Vương là những cơ sở sản khoa lớn ở TPHCM để được các bác sĩ khám và tư vấn. Bên cạnh đó, xin chia sẻ với chị một thông tin hữu ích, đó là gần đây trên thị trường xuất hiện sản phẩm Phụ Lạc Cao giúp hỗ trợ điều trị và phòng ngừa lạc nội mạc tử cung, giảm viêm, điều hòa khí huyết, điều hòa kinh nguyệt, có tác dụng đối với chứng viêm, phù nề khoang bụng sau phẫu thuật và ngăn ngừa bệnh tái phát. Phụ Lạc Cao đã được sử dụng tại hơn 600 bệnh viện của Trung Quốc cho kết quả tốt. Mới đây, sản phẩm này đã được báo cáo tại Bệnh viện phụ sản TW. Thân ái!

 Nguyễn Đức Vy

Virut gây u nhú ở người

Virut gây u nhú ở người (Human Papilloma Virus - HPV) là nguyên nhân chủ yếu gây ung thư cổ tử cung cho phụ nữ. Các nhà khoa học đã tìm thấy HPV trong 99,7% các trường hợp ung thư tế bào gai ở cổ tử cung. HPV cũng là nguyên nhân gây ra mụn cơm hay những nốt sần ở vùng sinh dục. Có hơn 100 chủng HPV nhưng chỉ có 15 chủng gây ung thư cổ tử cung, trong đó hai chủng 16 và 18 là nguyên nhân gây ra hơn 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung.

HPV lây truyền qua tiếp xúc và quan hệ tình dục (như qua tiếp xúc giữa da, niêm mạc dương vật với niêm mạc cổ tử cung, âm đạo), có khả năng lây lan dễ dàng và rộng rãi. Tuy vậy, HPV không lây theo máu hoặc theo tinh dịch, dịch âm đạo. Hầu hết nam, nữ đều bị nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời. Hầu hết các trường hợp nhiễm HPV không biểu hiện triệu chứng và tự khỏi sau vài tháng, 90% hết trong vòng 2 năm. Do đa số những người nhiễm HPV không biết tình trạng nhiễm của mình, nên họ có thể lây truyền cho bạn tình. Nguy cơ nhiễm cao nhất ở thời điểm bắt đầu có quan hệ tình dục.

 Hình ảnh virut HPV tấn công tế bào cổ tử cung.

Nhiễm trùng các chủng HPV “nguy cơ cao” kéo dài có thể tiến triển thành tổn thương tiền ung thư. Chỉ có khoảng 10% phụ nữ bị nhiễm HPV dai dẳng ở cổ tử cung. Khi xâm nhập vào cơ thể mà không bị đào thải, HPV sẽ gây ra những biến đổi bất thường ở các tế bào của cổ tử cung, làm chúng không thực hiện đúng chức năng của mình trong thời gian dài. Do không hề có triệu chứng nên bệnh có thể tiến triển qua nhiều năm mà không được phát hiện. Chỉ có tế bào ung thư mới lan truyền đi. Chúng đi khắp cơ thể, đến máu và dịch bạch huyết. Chúng cũng lan trực tiếp đến các mô gần cổ tử cung. Trong giai đoạn đầu (gọi là biến đổi tiền ung thư), những biến đổi này thường diễn ra chậm, khu trú tại chỗ tiếp xúc và thường không gây đau đớn, chảy máu, hay bất cứ dấu hiệu gì để cảnh báo. Tuy nhiên, nếu các tổn thương tiền ung thư được phát hiện sớm thông qua khám sàng lọc định kỳ và được điều trị kịp thời thì tỷ lệ khỏi rất cao. Nếu để muộn, chúng sẽ tiến triển thành ung thư và rất khó điều trị. Người ta cũng đã xác định được một số yếu tố thúc đẩy tiến triển thành ung thư cổ tử cung sau khi nhiễm HPV, đó là những phụ nữ có các yếu tố như: bị suy giảm miễn dịch, đẻ nhiều, đẻ con đầu tiên khi còn ít tuổi, sử dụng lâu dài thuốc tránh thai, hút thuốc lá, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh do Chlamydia trachomatis và bệnh do virut Herpes simplex. Các yếu tố này không trực tiếp gây ung thư nhưng tạo thuận lợi cho nhiễm virut HPV và tạo thuận lợi cho tổn thương tiền ung thư chuyển thành ung thư.

 Mặc dù HPV được coi là kẻ giết người thầm lặng đối với phụ nữ, nhưng có rất nhiều cách để họ có thể tự bảo vệ mình khỏi lây nhiễm HPV. Đối với các em gái và phụ nữ trẻ chưa có quan hệ tình dục thì tiêm vaccin sẽ dự phòng được bệnh ngay từ ban đầu. Với những phụ nữ trưởng thành đã có tiếp xúc tình dục, khám sàng lọc để phát hiện và điều trị kịp thời những tổn thương tiền ung thư sẽ ngăn ngừa không để chúng tiến triển thành ung thư. Bên cạnh đó, thực hành sinh hoạt tình dục lành mạnh và an toàn cũng là một biện pháp dự phòng hiệu quả đối với bệnh này.  

Như vậy, để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong liên quan đến ung thư cổ tử cung phụ nữ cần được bảo vệ một cách toàn diện, bao gồm tiêm vaccin HPV cho các em gái và sàng lọc phát hiện sớm các biểu hiện tiền ung thư cổ tử cung cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên, “cái khó bó cái khôn”. Vaccin HPV có giá thành còn quá cao, cho nên Nhà nước ta chưa thể có đủ kinh phí cho việc thực thi tiêm phòng cho tất cả em gái trước khi bước vào tuổi sinh hoạt tình dục, chưa đủ kinh phí cho việc trang bị máy móc, phương tiện, kỹ thuật sàng lọc rộng rãi để các cán bộ y tế có thể thực hiện ngay từ tuyến y tế cơ sở. Đây không chỉ còn là gánh nặng của mỗi người phụ nữ, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng mà là gánh nặng chung của toàn xã hội, nhất là ngành y tế. Nhiều tổ chức quốc tế đã và đang hỗ trợ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cả về kinh phí, kỹ thuật và đặc biệt là đang hợp tác để tìm giải pháp và chiến lược phù hợp giải quyết vấn đề lớn và khó khăn này trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp. “Phái yếu” ở Việt Nam đang kỳ vọng được tiếp nhận hiệu quả của các giải pháp toàn diện phòng bệnh ung thư cổ tử cung, tiến tới một tương lai không còn ung thư loại này.

TS.BS.Nguyễn Thị Kim Liên

Sinh con ở độ tuổi nào là tốt nhất?

Sinh con là một quyết định quan trọng đối với cả người vợ và người chồng, nó liên quan đến nhiều yếu tố cần được cân nhắc như điều kiện sức khỏe, kinh tế gia đình, những kiến thức làm mẹ,... Trong đó độ tuổi thích hợp để sinh con là một vấn đề vô cùng quan trọng. Nếu sinh con quá sớm (trước 20 tuổi) hoặc sinh con quá muộn (sau 35 tuổi) đều gây nhiều tai biến cho cả mẹ và thai nhi.

Các nguy cơ khi sinh con quá sớm

Nếu sinh con trước 20 tuổi,  cơ thể người phụ nữ chưa phát triển hoàn chỉnh, khung chậu hẹp nên trong quá trình chuyển dạ thường gây đẻ khó, dễ có tai biến cho con (chuyển dạ lâu thai dễ bị ngạt) và tai biến cho mẹ (tỷ lệ rách đường đẻ cao hơn bình thường vì đường đẻ hẹp, dẫn đến làm tăng nguy cơ chảy máu.).

Những đứa trẻ sinh ra trong khi mẹ mới đang ở độ tuổi vị thành niên thường có tỷ lệ tử vong và cân nặng thấp dưới 2500g cao hơn những mà mẹ đủ tuổi do nhiều nguyên nhân: cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh, không có kiến thức làm mẹ, không biết cách hoặc không được chăm sóc khi mang thai khiến quá trình sinh trường và phát triển của thai nhi bị ảnh hưởng,...

Ngoài ra, nếu sinh con trước 20 tuổi, người mẹ sẽ bị hạn chế khả năng học tập và cơ hội có nghề nghiệp ổn định, do đó sẽ không có đủ điều kiện tốt nhất để chăm sóc cho trẻ.

 Sinh con đúng độ tuổi để bảo đảm sức khỏe cho mẹ và tương lai cho trẻ. Ảnh: MH

…và những rủi ro khi sinh con quá muộn

Khi phụ nữ bước sang tuổi 35, sức khỏe cũng như chất lượng của trứng không đảm bảo, tỷ lệ thụ thai kém hơn khi còn trẻ, độ giãn nở của khung chậu đã bị hạn chế nên việc mang thai và sinh nở  lần đầu có nhiều rủi ro cho cả mẹ lẫn con. Các nguy cơ khi sinh con muộn thường gặp là: sẩy thai, đẻ non, tiền sản giật, thai lưu, đẻ khó,...  Mang thai khi đã lớn tuổi thì tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể cao nên tỷ lệ con mắc bệnh đần độn (Down) ở các bà mẹ này thường cao hơn bình thường. Nguy cơ càng tăng khi tuổi mang thai càng cao.

Độ tuổi phù hợp để sinh con

Người phụ nữ ở độ tuổi từ  22-29 tuổi có sức khỏe sinh sản tốt nhất vì cơ thể đã phát triển toàn diện, chất lượng trứng cũng ở thời kỳ tốt nhất. Ở độ tuổi này người phụ nữ đã phát triển đầy đủ về cả tâm - sinh lý cho việc mang thai và làm mẹ.  từ độ tuổi 24-29, các điều kiện về nghề nghiệp, kinh tế gia đình sẽ thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe khi mang thai cũng như chăm sóc em bé khi ra đời để trẻ được phát triển toàn diện. Ngoài ra cũng cần phải chú ý khoảng cách giữa 2 lần sinh để đảm bảo sức khỏe cho người phụ nữ và chăm sóc tốt con cái. Do đó sau 3 đến 5 năm mẹ mới nên sinh đứa con tiếp theo, khi cơ thể đã phục hồi hoàn toàn sau lần sinh đẻ trước.

Bác sĩ  Thu Lan

Nguyên nhân gây vô sinh ở nữ giới

Có ba nhóm nguyên nhân khiến phụ nữ khó mang thai, do vậy, chị em cần đến gặp các thầy thuốc chuyên khoa sớm để tìm ra nguyên nhân và điều trị đúng mới mang lại hiệu quả.

Không rụng trứng

Để biết có rụng trứng hay không, bạn có thể dựa vào các triệu chứng như: kinh nguyệt có đều hay không, ra chất nhầy giữa chu kỳ kinh, nhiệt độ cơ thể, siêu âm sự phát triển nang noãn và xét nghiệm máu định lượng nội tiết. Trong đó, định lượng nội tiết, siêu âm hoặc nội soi ổ bụng sẽ giúp chẩn đoán. Khoảng 70 - 80% phụ nữ không rụng trứng do mắc hội chứng buồng trứng đa nang với biểu hiện: kinh thưa, mất kinh hoặc mọc nhiều trứng cá, lông rậm, béo bệu và kèm theo nhiều nang nhỏ được phát hiện khi siêu âm. Bên cạnh đó, phụ nữ đến tuổi sinh sản không rụng trứng còn do suy yếu vùng dưới đồi - tuyến yên ở não bộ vốn là cơ quan kích thích buồng trứng hoạt động, hoặc do tăng tiết prolactin dẫn tới ức chế buồng trứng. Do vậy, lời khuyên đầu tiên cho chị em là hãy cố gắng thư giãn, thoải mái, tin tưởng vào thầy thuốc, điều này đóng góp 50% vào sự thành công trong điều trị vô sinh.

 Ảnh minh họa
Tắc vòi trứng

Đây là nguyên nhân chiếm đến 40% các trường hợp vô sinh ở nữ giới và có liên quan đến tiền sử hút và nạo thai. Do vậy, phụ nữ cần thiết phải sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn. Nếu lỡ có thai thì nên đến hút và nạo thai ở các cơ sở y tế chuyên khoa bảo đảm an toàn. Phương pháp nội soi ổ bụng để gỡ dính tắc vòi trứng, mở thông vòi hoặc nối lại vòi… sẽ mang lại hiệu quả tốt trong các trường hợp bị tổn thương ít và nhẹ. 70% các trường hợp còn lại chỉ có thể có thai bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm.

Tổn thương dính ở cổ tử cung, hoặc ở buồng tử cung

Nguyên nhân vô sinh này thường liên quan tới tiền sử hút thai và nạo thai. Dính buồng tử cung (TC) ở mức độ nhẹ là dính một phần niêm mạc buồng TC. Khi bị dính buồng TC có biểu hiện kinh ít và thưa, đau bụng khi hành kinh. Tuy nhiên, cũng có thể dính toàn bộ buồng TC với biểu hiện là mất kinh hoàn toàn sau nạo hút thai. Có những phụ nữ may mắn hơn chỉ dính một phần ngoài ống TC, không bị tổn thương đến niêm mạc TC. Trong trường hợp này, việc điều trị đơn giản hơn. Với trường hợp bị dính TC, dù một phần hay toàn bộ thì việc điều trị cũng phức tạp và tỷ lệ tái phát rất cao.

Ngày nay, với tiến bộ của y học, các tổn thương dính buồng TC đã được giải quyết bằng phẫu thuật nội soi. Để tránh dính sau mổ, bác sĩ cũng có thể đặt vòng chống dính và cho uống thuốc nội tiết để tạo kinh nhân tạo từ 4 – 5 tháng, tùy theo tình trạng tổn thương dính. Mặc dù kết quả điều trị dính buồng trứng TC đã có nhiều tiến bộ và khả quan trong những năm gần đây, nhưng nguyên nhân này cũng là nguyên nhân khiến nhiều bác sĩ chuyên ngành vô sinh trăn trở, đặc biệt là các bệnh nhân bị dính buồng TC toàn bộ.

BS Thu Phương

Những biến cố trong thời kỳ hậu sản

Thời kỳ hậu sản là khoảng thời gian sau khi nhau sổ cho đến khi chức năng sinh lý và giải phẫu của cơ quan sinh dục cơ thể người mẹ trở lại trạng thái bình thường, trung bình là 6 tuần lễ. Bên cạnh đó, có thể có những biến cố xảy ra trong thời kỳ hậu sản.

 Ảnh minh họa
Chảy máu sau sinh (CMSS)

CMSS bao gồm băng huyết, tụ máu sau may tầng sinh môn và chảy máu muộn.

CMSS do đờ TC: bình thường sau khi nhau sổ ra ngoài, tử cung phải co lại để cầm máu. Khi TC không co lại được gây ra chảy máu, khi lượng chảy máu trên 500ml gọi là băng huyết sau sinh kèm theo triệu chứng vã mồ hôi, chân tay lạnh, da niêm xanh, huyết áp tụt, mạch nhanh, TC mềm nhão, ấn vào TC máu từ âm đạo chảy ra nhiều. Đây là một cấp cứu khẩn về sản khoa, cần truyền dung dịch mặn đẳng trương kèm với oxytocin pha truyền tĩnh mạch chảy nhanh, kết hợp hồi sức, truyền dung dịch cao phân tử, truyền hồng cầu lắng cùng nhóm và xoa nắn trên đáy TC giúp cho TC co hồi tốt. Cần kiểm tra lòng TC sau khi dấu sinh hiệu tạm ổn.

CMSS do tổn thương đường sinh dục: nguyên nhân do rách tầng sinh môn, âm đạo và cổ TC. Sau sinh máu từ âm đạo chảy ra nhiều, khám TC co hồi tốt, TC có cầu an toàn rõ, kiểm tra bằng dụng cụ thấy có tổn thương đang chảy máu ở đường sinh dục. Cần hồi sức tốt, truyền dung dịch mặn đẳng trương, khi sinh hiệu ổn định thì tiến hành may lại chỗ tổn thương và kết hợp dùng thuốc kháng sinh liều cao, giảm đau và giảm sưng nề.

CMSS do bệnh lý rối loạn đông máu và cầm máu: sau sinh máu âm đạo chảy ra nhiều, toàn máu loãng, không có máu cục, người mẹ cảm giác mệt, vã mồ hôi, huyết áp tụt, mạch nhanh, xét nghiệm máu các chức năng đông máu cầm máu giảm và kéo dài. Cần truyền dung dịch mặn đẳng trương, dung dịch cao phân tử, huyết tươi đông lạnh và hồng cầu lắng cùng nhóm.

CMSS do tụ máu may tầng sinh môn hay tụ máu sau vết mổ sinh: nguyên nhân do kỹ thuật may và cầm máu trong lúc khâu không hết còn các mạch máu vẫn đang chảy. Triệu chứng sau khi khâu vết cắt tầng sinh môn hay vết mổ sinh, tại vết khâu nổi lên một khối u lớn, ấn mềm kèm theo các dấu hiệu mất máu rõ trên người mẹ như: dấu sinh hiệu kém, da xanh, niêm mạc nhợt và xét nghiệm hồng cầu giảm, hematocrit giảm và hemoglobin xuống thấp. Cần truyền dịch với dung dịch mặn đẳng trương, truyền hồng cầu lắng cùng nhóm nếu cần, khi sinh hiệu ổn cần may lại, lấy hết khối máu tụ, cầm máu kỹ, có thể đặt lame dẫn lưu nếu cần.

CMSS do chảy máu muộn: đây là biến cố xảy ra vào tuần thứ 2 hoặc thứ 3 sau sinh do bất thường vùng nhau bám hoặc sót nhau. Triệu chứng ra máu âm đạo tự nhiên, máu đỏ tươi, đôi khi đau nhẹ vùng hạ vị, TC co hồi chậm, siêu âm TC thấy TC còn lớn, lòng TC có khối hỗn hợp. Xử trí nạo hút lòng TC kết hợp truyền dung dịch mặn đẳng trương kèm với oxytocin truyền tĩnh mạch giúp cho TC co hồi tốt để cầm máu, dùng kháng sinh toàn thân để tránh nhiễm trùng.

Dự phòng chảy máu sau sinh

Tùy theo nguyên nhân CMSS mà ta có dự phòng tốt. Trong băng huyết sau sinh, phòng ngừa hiện nay chủ động xử trí tích cực ở giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ, nghĩa là chủ động tiêm oxytocin là thuốc co TC sau khi thai nhi sổ ra. Ngoài ra, đối với những trường hợp tiên lượng dễ băng huyết sau sinh như: đa thai, đa sản, chuyển dạ kéo dài, chuyển dạ có can thiệp sản khoa như trong sinh giúp ta nên lập một đường truyền tĩnh mạch, một chai dịch truyền đẳng trương có kèm oxytocin. Trong CMSS do tụ máu sau may tầng sinh môn hay khâu vết may trong mổ sinh, cần cầm máu kỹ các mạch máu bị đứt do cắt, may theo đúng nguyên tắc, đúng kỹ thuật. Trong chảy máu muộn cần kiểm tra kỹ bánh nhau và màng nhau, lưu ý có các bánh nhau phụ. Trường hợp không chắc chắn có thể kiểm tra buồng TC bằng tay, để xem sự vẹn toàn của buồng TC.

Bế sản dịch và dự phòng

Triệu chứng của bế sản dịch: người mẹ sốt nhẹ, căng tức, đau trằn vùng hạ vị. Khám âm đạo rất ít sản dịch có thể kèm mùi hôi do nhiễm trùng, cổ TC đóng kín, dùng tay nong cổ TC sản dịch ra màu đen sậm kèm mùi hôi, ấn hạ vị TC lớn, đau nhiều khi ấn đáy TC.

Xử trí: dùng ngón tay nong cổ TC để sản dịch thoát ra ngoài, nếu cổ TC cứng chít hẹp không thể nong bằng tay được ta dùng que héga để nong cổ TC từ số nhỏ đến que số lớn, có thể dùng thuốc misoprostol đặt âm đạo trước 4 giờ, giúp cho cổ TC mềm và cổ TC mở kết hợp nong cổ TC. Đồng thời dùng oxytocin pha truyền tĩnh mạch giúp TC co hồi tốt, kết hợp dùng thuốc kháng sinh liều cao toàn thân để tránh nhiễm trùng.

Nhằm tránh sản dịch ứ lại trong buồng TC cũng như phòng ngừa viêm nội mạc TC do bế sản dịch. Nhất thiết kiểm tra cổ TC sau sinh, cần nong rộng cổ TC. Đối với trường hợp sinh mổ chủ động, sau khi bóc nhau ra và lau sạch lòng TC cần nong cổ TC từ đường mổ xuống đoạn dưới TC bằng tay phẫu thuật viên, trước khi may lớp cơ TC. Sau khi mổ xong giai đoạn lấy máu cục âm đạo, cần phải nong cổ TC một lần nữa.

Sau sinh cần vận động sớm, có thể nằm sấp với thời gian từ 20 - 30 phút mỗi ngày đối với người mẹ có TC ở tư thế gập trước, giúp cho sản dịch ra dễ dàng.

Những rối loạn về đường tiết niệu

Bí tiểu sau sinh: trong chuyển dạ, khi ngôi thai xuống thấp, thường là đầu thai nhi, đè vào cổ bàng quang hay niệu đạo gây ứ đọng nước tiểu làm bàng quang căng giãn, khi giãn nhiều làm mất trương lực, làm co thắt cơ cổ bàng quang. Ngoài ra, trường hợp sau sinh phải cắt may tầng sinh môn, làm chỗ may sưng nề đau làm cho người mẹ khi đi tiểu không dám rặn tiểu vì đau. Sau khi sinh bàng quang không nhạy cảm với kích thích khi nước tiểu đầy, gây bí tiểu. Ngoài ra khi bí tiểu, động tác thông tiểu nhiều lần gây viêm bàng quang, làm cho triệu chứng bí tiểu thể hiện rõ. Điều trị bí tiểu sau sinh, bằng cách khôi phục lại trương lực bàng quang bằng những biện pháp như: chườm ấm vùng bàng quang, rửa hay ngâm vùng sinh dục ngoài bằng nước ấm, vận động sớm, tập ngồi tiểu theo tư thế bình thường. Sau những biện pháp trên không thành công, ta đặt sonde tiểu giữ và tháo kẹp mỗi 4 giờ/lần, tạo lại phản xạ đi tiểu, kết hợp dùng thuốc prostigmin hay xatral dùng thời gian 4 - 5 ngày. Sau đó rút sonde tiểu cho cho người mẹ tập đi tiểu.

Són tiểu: ngược lại với trường hợp bí tiểu do co thắt cơ ở cổ bàng quang, những người mẹ bị són tiểu sau sinh là do cơ co thắt cổ bàng quang không tốt, gặp trong trường hợp chuyển dạ kéo dài; sinh đẻ nhiều lần. Khi người mẹ cười, khi gắng sức, khi ho làm tăng áp lực ổ bụng làm cho nước tiểu bị són ra ngoài. Cách điều trị: tư vấn cho người mẹ an tâm về tinh thần, chế độ nghỉ ngơi tốt và dinh dưỡng sau sinh đầy đủ kết hợp dùng prostigmin khoảng 1 tuần sẽ ổn định. Trường hợp không khỏi và kéo dài qua thời kỳ hậu sản, có kế hoạch phẫu thuật nâng bàng quang bằng giá đỡ ở đối tượng sinh nhiều mà có tiểu són kéo dài.

Viêm tắc tĩnh mạch sau sinh

Viêm tắc tĩnh mạch ở thời kỳ hậu sản thường gặp là viêm tắc tĩnh mạch đùi nông. Triệu chứng, thường xảy ra vào ngày thứ 3 trở đi sau sinh, sốt cao 38,5 – 39oC, chân bị viêm rất đau, không thể nâng chân lên khỏi mặt giường được, tĩnh mạch sưng đỏ dọc theo chân. Toàn bộ chân phù nề trắng.

Điều trị: nằm bất động, chân bị viêm nâng cao hơn đầu, giúp cho máu ở phần chi dưới được lưu thông dễ dàng hơn. Dùng thuốc kháng sinh toàn thân liều cao, giảm đau, hạ sốt, có thể dùng Aspirin rất tốt trong trương hợp này, ngoài tác dụng giảm đau, thuốc còn có tác dụng chống ngưng tập tiểu cầu và dính vào thành mạch, hạn chế sự hình thành cục máu đông. Sử dụng Heparin, đây là thuốc đầu tay, có vai trò quan trọng điều trị huyết khối và tắc mạch, dùng bằng tiêm tĩnh mạch.

Dự phòng: hoạt động sớm sau khi sinh, không nên nằm lâu trên giường, vận động tay chân, khi nằm gác chân cao giúp sự lưu thông máu tốt.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Vì sao đặt vòng mà vẫn có thai?

Bất kỳ biện pháp tránh thai nào cũng không thể đạt được hiệu quả 100%. Thắt ống dẫn trứng chỉ đạt hiệu quả 99%, dùng thuốc tránh thai đạt 98%, còn đặt vòng tránh thai đạt từ 80-90%.

Nguyên nhân việc đặt vòng mà vẫn có thai có thể do: vòng bị rơi ra mà không biết, vòng trong khoang tử cung ở vị trí thấp gần cửa cổ tử cung, không khống chế được vai trò phát triển và quá trình đưa phôi vào trong tử cung, kích cỡ của vòng không phù hợp với kích thước của tử cung hoặc do vòng đã bị biến dạng làm mất đi tác dụng của vòng tránh thai. Nội mạc tử cung không thích ứng với vòng tránh thai cho nên cũng không đạt được hiệu quả tránh thai mong muốn. Tuột vòng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến có thai dù đã đặt vòng

 Vỡ kế hoạch là nỗi lo của phụ nữ
Nguyên nhân gây tuột vòng

Vòng đã được đưa vào tử cung vẫn có thể tuột ra. Đối với tử cung, vòng là một loại dị vật. Vì vòng tránh thai có thể loại bỏ chức năng của tử cung làm cho tử cung bị co thắt khiến vòng bị tuột ra khỏi tử cung. Lúc này có thể xuất hiện các hiện tượng như: đau lưng, đau bụng, ra nhiều khí hư, rong kinh. Vì vậy, sau khi đặt vòng trong những tháng đầu rất dễ xảy ra các phản ứng do chưa thích ứng nên dẫn đến hiện tượng tuột vòng. Nếu vòng không bị tuột thì sau đó tử cung sẽ dần dần thích ứng.

Thời gian đặt vòng quá lâu cũng là nguyên nhân dẫn đến bị tuột vòng. Thông thường, tỉ lệ tuột vòng chỉ chiếm từ 1-14%. Ngoài việc không thích ứng nên dẫn đến tuột vòng, còn có 5 nguyên nhân khác:

- Do không nắm rõ vị trí đặt vòng cụ thể. Phụ nữ sau khi sinh non, tử cung thường rất to, hoặc trong thời kỳ cho con bú chưa xuất hiện kinh nguyệt trở lại nên tử cung rất nhỏ. Tử cung quá to hoặc quá nhỏ đều có thể là nguyên nhân dẫn đến tuột vòng.

- Do sa tử cung, cổ tử cung bị tổn thương nên khi đặt vòng cũng dễ bị tuột.

- Do kích thước của tử cung và kích cỡ vòng tránh thai không phù hợp.

- Do chất lượng và hình dáng của vòng, như vòng rỗng thì chất lượng kém, vòng hỗn hợp nhựa kim loại dễ bị tuột, vòng kim loại có chất lượng mềm nên cũng dễ bị tuột.

- Do vấn đề về kỹ thuật đặt vòng, đó là khi đặt vòng đã không đưa được đến tận đáy tử cung, hoặc sau khi đặt vòng xong rút dụng cụ đặt vòng không cẩn thận đã kéo vòng ra theo gần miệng cổ tử cung, hiện tượng này cũng dễ dẫn đến bị tuột vòng.

Vòng tránh thai trong tử cung 

Những điều cần làm sau khi đặt vòng

Sau khi đặt vòng, chị em nên nghỉ ngơi 2 ngày, và trong vòng một tuần tránh làm việc nặng.

Định kỳ phải đi bệnh viện kiểm tra. Thông thường sau khi đặt vòng một tháng, sau khi hết kinh nguyệt nên đến bệnh viện kiểm tra lần đầu và 3 tháng sau nên tái khám lần nữa.

Sau này căn cứ theo tình hình mà nên cách 1 - 2 năm đi kiểm tra lại.

Tỉ lệ tuột vòng cao nhất là trong 3 tháng đầu sau khi đặt, đặc biệt là trong chu kỳ kinh nguyệt miệng tử cung luôn mở để cho kinh nguyệt chảy ra ngoài nên vòng cũng dễ bị tuột theo. Thời gian lâu dần thì vòng đã thích ứng trong tử cung nên tỉ lệ bị tuột cũng giảm dần.

BS. NGUYỄN NGỌC LAN

“Giá như kiên trì hơn, tôi đã hết u xơ tử cung”

Điều trị khoảng một năm, kích thước u xơ tử cung của chị đã giảm xuống được 1cm. Vậy mà, do công việc bận rộn, đồng thời không thấy biểu hiện của bệnh nữa nên chị đã ngừng điều trị. Không ngờ, một thời gian sau, chị đi khám lại thì được biết kích thước u xơ tử cung đã to trở lại 3,7cm – Sự chủ quan đó đã khiến căn bệnh của chị Nguyễn Thị Th. (sinh năm 1968, ở tổ 3, khu 6, phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) trở về mốc số 0.

Chị Th. kể về câu chuyện của mình: “Năm 2007, tôi bị đau nhói ở bụng dưới khi đứng lên ngồi xuống, rất khó chịu. Ban đầu, tôi nghĩ chắc đó là dấu hiệu bình thường ở phụ nữ. Sau đó, trong một lần đưa đứa cháu đi khám tại một cơ sở y tế tư nhân ở Cẩm Phả, tôi cũng thử khám xem mình có bị bệnh gì không. Cầm kết quả siêu âm trên tay, tôi hoảng sợ, không tin nổi khi biết mình bị u xơ tử cung khá lớn là 3,7cm. Tôi lo phát khóc và rất sợ mổ, nếu tôi phải nằm viện thì ai chăm sóc gia đình? Không cam tâm, tôi đã hỏi bạn bè xem có phương pháp nào điều trị bệnh mà không phải mổ. May thay, một người quen đã khuyên tôi dùng Nga Phụ Khang”.

 Ảnh minh họa
Như “chết đuối vớ được cọc” chị Thế đã mua Nga Phụ Khang về uống ngay, với 9 viên một ngày. Bên cạnh đó, chị còn uống nước sắc từ lá cây trinh nữ hoàng cung, mỗi sáng uống hai thìa nhỏ tam thất, kết quả làm chị mừng vui: “Sau khi dùng Nga Phụ Khang liên tục, triền miên khoảng hơn một năm, tôi đi xét nghiệm lại thì u xơ tử cung giảm xuống nhiều, chỉ còn 2,7cm”.

Thấy không còn đau bụng, u xơ tử cung đã giảm, người cảm thấy dễ chịu, vòng xoáy cuộc sống đã khiến chị Th. quên đi việc phải chữa trị dứt điểm căn bệnh của mình. “Bẵng đi một thời gian dài, đến tháng 08/2010, tôi thấy đau bụng, đi khám thì bác sĩ cho hay kích thước u xơ đã to trở lại 3,7cm”. Lúc này, cảm xúc của chị Th. trở nên hỗn độn: Bàng hoàng, nuối tiếc công sức, tiền bạc và  những kết quả khả quan của một năm điều trị bệnh đã bị chị bỏ phí: “Gía như tôi kiên trì uống Nga Phụ Khang suốt từ đó đến nay thì chắc tôi đã khỏi bệnh rồi”.

Dù đã muộn, nhưng ít ra chị vẫn còn biết rằng có Nga Phụ Khang giúp chị đẩy lùi được căn bệnh này. “Tôi quyết tâm phải điều trị nghiêm túc, triệt để u xơ tử cung. Tôi đang sử dụng phương pháp điều trị cũ, tức là dùng Nga Phụ Khang 9 viên một ngày, kết hợp uống nước lá cây trinh nữ hoàng cung trồng trong vườn và tam thất, tôi đã hết đau bụng. Chắc chắn là tôi không mổ mà chỉ uống Nga Phụ Khang để duy trì. Tôi thấy rất nhiều phụ nữ bị bệnh này, tôi có người quen mổ u xơ tử cung ở dưới Hạ Long xong thì bị dính ruột, phải đưa lên Hà Nội cấp cứu, nên tôi rất sợ. Hôm tôi đi khám, bác sĩ cũng bảo cứ dùng Nga Phụ Khang đều đặn thì không cần phải mổ, vậy nên tôi cũng yên tâm và tin tưởng sản phẩm này”– chị cười.

 Thu Hồng

Tuổi “làm mẹ” phải đối mặt với bệnh gì?

Lứa tuổi 20 - 30 của phụ nữ được coi là một trong những giai đoạn đẹp nhất: Những rắc rối của tuổi dậy thì chấm dứt, cơ thể phát triển hoàn thiện, thực hiện thiên chức tuyệt vời nhất - làm mẹ… Thế nhưng, ở giai đoạn này, chị em cũng đừng quên phòng ngừa một số căn bệnh sau:

Thoái hóa võng mạc ngoại vi ở phụ nữ mang thai: Căn bệnh này có thể gây bong võng mạc - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù - ở bệnh nhân cận thị nói chung và phụ nữ mang thai cận thị nói riêng. Ở bệnh nhân cận thị, do trục nhãn cầu bị kéo dài nhiều năm, võng mạc bị giãn mỏng và thoái hóa, đặc biệt là vùng ngoại vi, do đó võng mạc trở nên yếu ớt trước những tác động cơ học. Phụ nữ bị cận thị nguy cơ bong võng mạc trong quá trình sinh nở càng cao. Chính vì thế, chị em cần hết sức lưu ý. Ngoài việc đi khám thai theo định kỳ, phụ nữ bị cận thị cần đi kiểm tra mắt. Nếu những tổn thương võng mạc được phát hiện sớm, bệnh nhân chỉ cần trải qua một lần điều trị gia cố võng mạc bằng la-de giúp ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ bong võng mạc.

Nếu không được điều trị kịp thời, bong võng mạc sẽ dẫn đến mù lòa.
Bệnh trĩ trong khi mang thai và sau khi sinh con:

Có rất nhiều nguyên nhân khiến phụ nữ có thai bị bệnh trĩ: ngồi nhiều, hạn chế vận động, uống ít nước... Trong quá trình sinh nở, việc rặn không đúng cách làm tăng áp lực lên ổ bụng, khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài. Sau khi sinh, tử cung mở to, tăng áp lực khoang chậu, tụ máu sưng phù tĩnh mạch ở phần hậu môn, gây ra bệnh trĩ. Bên cạnh đó, sau khi sinh, một số sản phụ thực hiện chế độ ăn uống kiêng khem quá mức… khiến nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Ngoài ra, các bệnh ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, hiện tượng thai những tháng cuối cũng có thể gây chèn ép và cản trở đường về của tĩnh mạch làm cho đám rối trĩ căng phồng lên, gây bệnh. Đặc biệt, những phụ nữ trong quá trình mang thai đã bị trĩ, sau khi sinh con nếu không biết giữ gìn sẽ khiến bệnh tiến triển nặng hơn.

Để phòng bệnh trĩ, các bà mẹ mang thai và mới sinh con cần lưu ý: Tránh bị táo bón bằng cách bổ sung thêm các loại rau xanh, trái cây và lượng nước đầy đủ cho cơ thể. Tăng cường vận động cơ thể, đặc biệt chú ý tập luyện cơ vùng chậu để vùng cơ này mềm mại, khỏe, từ đó hạn chế được bệnh trĩ. Sau khi đại tiện nên rửa sạch vùng hậu môn và lau khô. Nên cố gắng giảm căng thẳng và áp lực không cần thiết. 

Tư vấn sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.          
Trầm cảm và stress: Đây là căn bệnh mà phụ nữ thời hiện đại rất hay mắc phải. Nguyên nhân là do áp lực trong công việc, trong cuộc sống. Căn bệnh này càng tăng khi có gia đình, sinh nở và nuôi dạy con cái. Hậu quả của trầm cảm và stress, nếu ở mức độ nhẹ sẽ khiến phụ nữ dễ cáu gắt, lo âu, tính tình thất thường; cao hơn thì chán ăn hoặc ăn uống không kiểm soát, đau đầu, mệt mỏi… Tình trạng này nếu trường diễn sẽ khiến chị em suy sụp sức khỏe, dễ mắc các bệnh về tim mạch, huyết áp, chuyển hóa… Phòng và tránh trầm cảm, stress không khó. Chị em nên chia sẻ với bạn bè, người thân, chồng… những suy nghĩ, lo lắng của mình để sớm tìm ra cách giải quyết ổn thỏa nhất. Nên dành thời gian để thư giãn, giải trí nhằm lấy lại cân bằng tinh thần trong cuộc sống.

U xơ tử cung: Cứ 4-5 phụ nữ trong độ tuổi trên 35 lại có một người bị u xơ tử cung. Một người có thể có một hoặc nhiều u xơ cùng lúc trên tử cung. Đây là một loại khối u của tử cung xuất hiện trong thời kỳ sinh đẻ. Nó không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung và hầu hết không tiến triển thành ung thư.

Hiện nay, nguyên nhân gây u xơ tử cung vẫn chưa được biết rõ. Các yếu tố sau đây được xem là thủ phạm dẫn đến u xơ tử cung: di truyền; ảnh hưởng của nội tiết tố như progesterone, estrogen; đặc biệt là estrogen vì u xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất, sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm.

U xơ tử cung ít gây khó chịu và hiếm khi cần phải điều trị. Nếu khối u gây đau chói đột ngột vùng chậu thì cần phải được điều trị cấp cứu, dù biến chứng này hiếm xảy ra. Người ta có thể sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật để làm giảm kích thước hoặc cắt bỏ hoàn toàn khối u.  

  BS. Trần Thanh Hạnh

Phù nhau thai

 Tôi đã 30 tuổi, cách đây 2 năm khi mang thai được 16 tuần tuổi tôi đi khám và siêu âm bác sĩ phát hiện bị phù nhau thai và phải thực hiện đình chỉ thai nghén. Nay tôi muốn có thai nhưng lại sợ bị phù nhau thai lần nữa. Xin bác sĩ cho biết lần mang thai này tôi có bị như thế không?

       Phạm Thị Lưu (Sơn Động - Bắc Giang)

Nhau thai được gắn vào tử cung, đảm bảo thai nhi được cung cấp đủ chất dinh dưỡng và ôxy; đồng thời, nhau thai sản xuất ra đủ hormone giúp bào thai phát triển. Các chất dinh dưỡng và ôxy được truyền từ máu của mẹ vào tới bào thai qua nhau thai. Nhau thai còn liên kết với bào thai thông qua dây rốn. Nhau thai cũng giống như một miếng lá chắn, giúp bảo vệ bào thai trước nhiều loại vi khuẩn. Nhưng nó không đủ khả năng chống lại virut như virut cúm, virut gây bệnh Rubella vẫn có thể xâm nhập vào bào thai. Nếu mẹ hút thuốc hay uống rượu thì các chất từ rượu và thuốc có thể qua nhau thai, truyền tới thai nhi.

Bề mặt nhau thai mịn, sáng bóng, có màu đỏ và bề dày khoảng 2 - 4cm. Một nhau thai bình thường nặng khoảng 400 - 600g. Khi nhau thai bị phù, độ dày có thể gấp đôi bình thường, kèm theo đó có thể có bất thường thai hay nước ối. Bánh nhau là nơi trung gian để thực hiện sự trao đổi chất bổ dưỡng từ mẹ sang con và ngược lại các chất cần thải bỏ từ con sang mẹ. Khi bánh nhau bị bệnh, chức năng này không được đảm bảo, không có sự lưu thông giữa máu mẹ và máu con.

 Nguyên nhân gây phù nhau thai thường do nhiễm trùng, có thể là vi trùng hay siêu vi trùng (virut), cũng có khi do bất thường về nhiễm sắc thể gây ra bất thường nhau và thai. Những phụ nữ hút thuốc lá hay uống rượu, mắc bệnh Rubella khi mang thai... là nguy cơ dễ  dẫn đến nhau thai bị phù.

Trong thư chị không nói rõ nguyên nhân gây phù nhau thai lần trước, do vậy giờ muốn có thai chị cần đến khoa sản của các cơ sở y tế hoặc bệnh viện chuyên khoa sản để được bác sĩ tư vấn trước khi có thai. Nếu nguyên nhân do nhiễm trùng, hay vi trùng thực hiện phòng tránh tốt thì sẽ tránh được nguy cơ phù nhau thai. Đối với trường hợp bất thường về nhiễm sắc thể cần được bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm một số xét nghiệm cần thiết và sẽ tư vấn có nên mang thai lại hay không.

Hiện không có cách điều trị một khi đã bị phù nhau thai. Nếu không bỏ thai chủ động khi có bệnh, thai vẫn tiến triển nhưng sẽ tự mất sau một thời gian do nhau không đảm nhiệm được chức năng dinh dưỡng cho thai. Để không bị phù nhau thai, thai phụ không hút thuốc lá, uống bia rượu và tránh mắc bệnh Rubella, nhất là trong 3 tháng đầu thai kỳ. Thường xuyên khám và theo dõi thai tại các cơ sở y tế.

Bác sĩ Nguyễn Minh

Tiến bộ mới trong phát hiện sớm ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung thường được phát hiện ở những phụ nữ trong độ tuổi 40 - 50. Trên thế giới, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến hàng thứ hai và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong vì ung thư ở phụ nữ. Hằng năm có 500.000 ca ung thư cổ tử cung mới được phát hiện và gần 300.000 phụ nữ tử vong vì căn bệnh này

Trong một thời gian dài, ung thư cổ tử cung là cơn ác mộng đối với phụ nữ, không chỉ do bệnh diễn tiến thầm lặng rất khó phát hiện mà còn vì tỉ lệ tử vong và số lượng bệnh nhân.

Gần đây các nhà khoa học đã xác định nguyên nhân của hầu hết các dạng ung thư cổ tử cung là Human Papilloma Virus (HPV) - virus gây u nhú ở người.

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung là HPV týp 16 và 18 . Hiện, trên thế giới có đến 630 triệu người bị nhiễm HPV.

Điều đáng sợ nhất là HPV diễn tiến thầm lặng, không có triệu chứng rõ ràng và khi triệu chứng xuất hiện thì bệnh đã tiến triển. Lúc này bệnh trở nặng và tiến triển nhanh chóng không thể kiểm soát nổi.

Do các dấu hiệu tiền ung thư và ung thư giai đoạn đầu ở cổ tử cung không gây đau đớn hay có triệu chứng rõ rệt, nên thường xuyên xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (Pap test) là cần thiết để phòng ung thư cổ tử cung. Hiện các vaccin phòng HPV cổ tử cung đã có ở Việt Nam. Lứa tuổi phù hợp để tiêm loại vaccin này là từ 12 đến 26 tuổi, vaccin sẽ có hiệu quả tốt hơn nếu người được tiêm chưa quan hệ tình dục. Tuy nhiên kể cả vaccin chỉ phòng ngừa được 70 % nguy cơ ung thư mà thôi, chính vì vậy việc đi làm xét nghiệm Pap nên được làm định kỳ ở những phụ nữ đã có quan hệ tình dục.

Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán sớm ung thư nói chung và ung thư cổ tử cung nói riêng, các bệnh viện phụ sản lớn ở Việt Nam như Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Hùng Vương chính thức đưa áp dụng phương pháp xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung Thinprep Pap Test vào phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện. Thinprep Pap Test được Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chứng nhận từ tháng 5/1996. Phương pháp này hiện đang được sử dụng phổ biến tại Mỹ, châu u cũng như các nước trong khu vực. Thinprep có nhiều ưu điểm vượt trội như làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong phát hiện các tế bào tiền ung thư, đặc biệt là các tế bào biểu mô tuyến, một loại tế bào ung thư rất khó phát hiện. Theo các nghiên cứu, phương pháp Thinprep giúp tăng 55% số phát hiện tế bào nguy cơ ung thư cao so với phương pháp Pap truyền thống. Phương pháp Thinprep đồng thời mang lại sự cải thiện rõ rệt về tính đồng đều tế bào trong công đoạn lấy mẫu, giúp việc phát hiện các tổn thương tế bào tiền xâm nhập trong các nhóm bệnh nhân tới khám tại bệnh viện, cũng như kết quả sàng lọc trong cộng đồng.

Khi áp dụng phương pháp Thinprep sẽ giúp giảm đáng kể tỷ lệ xét nghiệm âm tính giả, đặc biệt tăng tỉ lệ phát hiện các tổn thương của tế bào biểu mô tuyến, giúp chẩn đoán chính xác giai đoạn sớm, mang lại hiệu quả điều trị cao, giảm chi phí điều trị giảm tỷ lệ tử vong và nâng cao hiệu quả xã hội.           

BS. Huỳnh Xuân Nghiêm

(Bệnh viện Hùng Vương)

Phá thai

Phá thai là việc tách và lấy các thành phần của bào thai khỏi tử cung của người phụ nữ có thai nhờ tự nhiên, dùng thuốc hay can thiệp ngoại khoa.

Phá thai không an toàn là một thủ thuật đình chỉ thai nghén ngoài ý muốn được thực hiện hoặc bởi người không đủ kỹ năng cần thiết hoặc trong môi trường không đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu hoặc cả hai.

Ở các nước đang phát triển, nguy cơ tử vong do phá thai không an toàn cao gấp hàng trăm lần so với phá thai an toàn. Biến chứng lâu dài của phá thai không an toàn là vô sinh và chửa ngoài tử cung.

Vì không có biện pháp tránh thai nào đạt hiệu quả 100% nên việc có thai ngoài ý muốn là không tránh khỏi và người phụ nữ vẫn cần dịch vụ phá thai.

Hầu hết, các nước luật pháp cho phép phá thai để cứu tính mạng người phụ nữ và đa số các nước cho phép phá thai vì sức khoẻ thể chất và tâm thần của người phụ nữ.

Ở những nơi áp dụng rộng rãi và có hiệu quả các biện pháp tránh thai thì tỷ lệ phá thai giảm đáng kể nhưng không có nơi nào tỷ lệ phá thai bằng 0% vì một số lý do: Trước tiên là có hàng triệu cặp vợ chồng hoặc không tiếp cận với các biện pháp tránh thai có hiệu quả hoặc không có đầy đủ các thông tin để sử dụng chúng một cách hiệu quả; Thứ hai đó là không có biện pháp tránh thai nào đạt hiệu quả 100%; Thứ ba là tỷ lệ bạo hành đối với người phụ nữ trong gia đình và xã hội dẫn đến thai ngoài ý muốn ngày càng gia tăng; Thứ tư là do sự thay đổi hoàn cảnh sống như ly dị hoặc các cuộc khủng hoảng tinh thần làm cho việc có thai trở thành thai ngoài ý muốn.

Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về giảm tỷ lệ phát triển dân số. Tuy nhiên, phá thai và những biến chứng gây nên là những vấn đề tồn tại lớn đối với phụ nữ Việt Nam. Mục tiêu chiến lược dân số năm 2010 không chỉ đơn thuần là vấn đề giảm sinh mà còn giảm tỷ lệ phá thai. Tỷ lệ phá thai còn cao, hàng năm, số người phá thai tăng theo sự phát triển dân số. Tình trạng phá thai ở phụ nữ chưa có con và chỉ có con gái vẫn còn nhiều.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có 40 - 60 triệu phụ nữ phá thai. Tử vong do tai biến của phá thai khoảng 100.000 - 200.000 ca. Tỷ lệ phá thai ngày càng tăng, năm 1990 khoảng 25 triệu ca phá thai, đến năm 1995, số ca phá thai tăng lên 46 triệu, trong đó có 20 triệu ca là phá thai hợp pháp. Trung bình cứ 1.000 phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 có 35 người phá thai. Trong tổng số phụ nữ mang thai có 26% phụ nữ kết thúc thai nghén bằng phá thai.

Phá thai không an toàn sẽ gây những tai biến nguy hiểm.

Ở nước ta, phá thai được pháp luật cho phép từ năm 1945 và tuổi thai tối đa để phá thai là hết 22 tuần. Tỷ lệ phá thai năm 1994 là 2,5% giảm xuống còn 1,2% năm 2004. Tai biến do phá thai gồm: chảy máu, thủng tử cung, nhiễm khuẩn, uốn ván… Tuy các tai biến này có giảm nhưng vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong cho người phụ nữ. Cùng với phá thai thì tỷ lệ vô sinh trong độ tuổi sinh đẻ cũng tăng nhất là vô sinh thứ phát. Có nhiều yếu tố tác động đến phá thai: nhiều con, giãn khoảng cách sinh, lý do y tế, thất bại khi sử dụng biện pháp tránh thai, lý do kinh tế, việc làm, giới tính... Mỗi người phụ nữ đến phá thai tại cơ sở y tế đều có lý do riêng, mặc dù họ không muốn thế. Muốn khống chế, giảm tỷ lệ phá thai, ngoài các chính sách can thiệp giảm tỷ lệ phá thai, cần tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hành vi phá thai của người phụ nữ. Biện pháp giảm tỷ lệ phá thai có hiệu quả là truyền thông tư vấn về việc áp dụng biện pháp tránh thai để mỗi gia đình chỉ có 1-2 con.

Một số khó khăn mà nhân viên y tế gặp phải trong khi cung cấp dịch vụ phá thai toàn diện: Thiếu nhân lực; Không đủ cơ sở vật chất theo chuẩn; Thiếu dụng cụ hoặc thuốc men; Chưa được tập huấn đầy đủ để đáp ứng một cách hữu hiệu nhu cầu phá thai của người phụ nữ; Vấn đề giao tiếp với khách hàng; Thái độ/lối suy nghĩ không tương đồng với người khác.

Các phương pháp phá thai quý I

- Hút chân không bằng tay hoặc bằng điện, áp dụng cho tuổi thai đến 12 tuần kể từ ngày đầu kỳ kinh cuối cùng.

- Phá thai nội khoa (phá thai bằng thuốc) kết hợp mifepristone sau đó dùng prostaglandin như misoprostol hoặc gemeprost áp dụng cho tuổi thai tới 9 tuần kể từ ngày đầu kỳ kinh cuối. Misoprostol là loại prostaglandin được sử dụng nhiều vì rẻ và không cần bảo quản lạnh.

- Nong và nạo chỉ nên áp dụng ở nơi mà hút thai chân không không có hoặc không có phá thai bằng thuốc.

Ước tính, mỗi năm trên thế giới có khoảng 210 triệu ca thai nghén và khoảng 46 triệu (22%) ca kết thúc bằng phá thai và tính bình quân trên toàn thế giới trong cuộc đời mỗi người phụ nữ đến tuổi 45 đã có ít nhất một lần phá thai. Gần 20 triệu ca trong số này là phá thai không an toàn.

Khoảng 13% tử vong liên quan đến thai nghén là do phá thai không an toàn và con số tử vong khoảng 67.000 ca mỗi năm.

Các phương pháp phá thai quý II

- Nong và gắp sử dụng kết hợp giữa hút chân không và foóc xép.

- Mifepristone sau đó dùng liều prostaglandin nhắc lại như dùng misoprostone hoặc gemeprost.

- Prostaglandin đơn thuần (misoprostol hoặc gemeprost) nhắc lại nhiều lần.

Mời xem tiếp Điều trị tai biến và biến chứng phá thai trên SK&ĐS số 51 ra ngày 29/3/2011

  ThS. Vũ Văn Du (BV Phụ sản TW)

Nhiễm Rubella khi mang thai

Trong thời gian gần đây bệnh sốt phát ban, với một tỷ lệ rất lớn người bệnh nhiễm Rubella đang lây lan và chưa có dấu hiệu chững lại, trong đó có rất nhiều phụ nữ mang thai nhiễm Rubella đã phải bỏ thai do nguy hiểm đối với thai nhi. Tùy thuộc vào thời gian thai nhiễm vi rút, không phải bất cứ trường hợp phụ nữ mang thai nào nhiễm Rubella cũng cần phải đình chỉ thai nghén.

 

Trước khi có thai

 

Những người từng bị nhiễm vi rút Rubella và khỏi bệnh trước khi mang thai ít nhất 3 tháng thì không có ảnh hưởng gì. Thường khi khỏi bệnh cũng hết vi rút. Tuy nhiên trước khi quyết định mang thai nên đến cơ sở y tế để khám tổng quát và làm các xét nghiệm đảm bảo không có bệnh lý gì ảnh hưởng tới quá trình mang thai.

 Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cần tiêm phòng Rubella trước khi mang thai 3 tháng. Ảnh: TL
Trong khi mang thai

12 tuần đầu thai kỳ là thời gian nguy hiểm nhất khi nhiễm Rubella ở người mẹ. Vi rút Rubella từ máu của mẹ chuyền qua nhau thai vào thai nhi trong giai đoạn khởi phát và toàn phát của bệnh. Vi rút này có khả năng phá hủy hay làm chậm sự phát triển của phôi thai và đây là nguyên nhân gây ra những dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Tùy vào thời điểm nhiễm bệnh, tỷ lệ con bị hội chứng Rubella bẩm sinh thay đổi, càng những giai đoạn đầu mang thai tỉ lệ dị tật càng cao.

Thai phụ bị nhiễm vi rút Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ thì có tới 90% thai nhi bị ảnh hưởng như thai chết lưu, sẩy thai tự nhiên... Trẻ sinh ra sẽ mắc các dị tật như còn ống động mạch, thông liên thất, hẹp động mạch phổi, loét giác mạc, đục thủy tinh thể, viêm võng mạc, nhãn cầu nhỏ, chậm phát triển trí tuệ và điếc. Còn nếu người mẹ mắc bệnh ở tuần thai thứ 16, các biến chứng giảm nhiều, chỉ còn khoảng 10 đến 20% thai nhi có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh. Hiếm gặp dị tật sau tuần thứ 20 của thai kỳ.

Trong thời kỳ thai từ 12 - 17 tuần tuổi, nếu được chẩn đoán xác định nhiễm Rubella thì tốt nhất nên đình chỉ thai nghén. Nếu mang thai trên 17 tuần thai phụ cần được khám theo dõi thường xuyên tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Tiêm vaccin là biện pháp phòng bệnh tốt nhất

Trước khi có quyết định mang thai, nên đi tiêm vaccin phòng bệnh Rubella, ngay cả khi đã tiêm phòng Rubella từ nhỏ vì khả năng phòng bệnh cũng bị giảm miễn dịch. Việc tiêm phòng phải được thực hiện 3 tháng trước khi có thai. Nhưng thời gian tốt nhất có thai là 4 tháng sau khi tiêm phòng. Tuyệt đối không được tiêm khi đã có thai.

Nếu khi có thai mà vẫn chưa tiêm phòng cần cách ly đặc biệt với người mắc Rubella, nhất là trong 16 tuần đầu của thai kỳ. Khi đi ra ngoài, nhất là trong khu vực lưu hành bệnh cần đeo khẩu trang, hạn chế tiếp xúc nơi đông người… Nếu chẳng may tiếp xúc với người bệnh Rubella hoặc có biểu hiện nghi ngờ nhiễm Rubella cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, tư vấn và có biện pháp can thiệp kịp thời. 

Bác sĩ  Thu Vân

Sinh mổ và những điều cần lưu ý

Ngày càng có nhiều bà mẹ và em bé được cứu sống nhờ phương pháp sinh mổ, tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận xu hướng lạm dụng kỹ thuật này.

Vậy sinh mổ có những biến chứng gì, có ảnh hưởng đến sữa cho em bé bú hay không và cách chăm sóc vết mổ như thế nào? Và sinh mổ em bé lần đầu thì nên sau bao lâu có thai sẽ an toàn và liệu sinh mổ có làm giảm nguy cơ viêm nhiễm phần phụ ở phụ nữ hay không?.  

Nhiều sản phụ cho rằng, mổ đẻ sẽ giúp đứa con ra đời một cách nhẹ nhàng, sẽ làm trẻ thông minh và khoẻ mạnh hơn. Bên cạnh đó, người mẹ cũng tránh được nhiều nguy cơ có thể xảy ra khi đẻ thường. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học đã chứng minh, đứa trẻ ra đời bằng phương pháp đẻ thường sẽ có sức đề kháng và đường hô hấp tốt hơn những đứa trẻ được mổ lấy ra.

 

Đó là do trong quá trình được sinh ra, trẻ chịu sức ép của sự co bóp trong tử cung người mẹ nên phổi đã một quá trình thích ứng tốt. Các bé sinh mổ cần được theo dõi kỹ hơn vì có thể vẫn còn dịch chưa được lấy hết. Lúc đó, bé có thể bị suy hô hấp tức thời, nghẹt thở...  nếu không được phát hiện có thể gây tử vong.

Lưu ý đối với sản phụ sinh mổ khi về nhà:

Dây chằng và cơ bị dão dưới tác dụng của các hormone trong thời gian mang thai. Các bộ phận ở bụng dưới hồi phục kém, các khớp không vững, cơ mất khả năng trương lực. Nếu đẻ mổ thì các cơ vùng bụng dưới bị giãn ra mạnh, Da bị tổn thương do vết rạch nên cơ thể sản phụ rất yếu. Vì vậy, sản phụ cần:

- Không mang vác các vật nặng hơn trọng lượng của bé.

- Nằm duỗi thẳng thường xuyên.

- Chú ý đến tư thế cơ thể.

- Cố gắng ngủ trưa hàng ngày.

Chính vì thế, gia đình cần thu xếp việc nhà trước khi sản phụ và bé trở về, để các công việc hàng ngày chỉ tập trung vào việc chăm sóc trẻ.

Chế độ dinh dưỡng và các vitamin

Cơ thể cần phải bình phục sau 9 tháng có bầu và một ca phẫu thuật. Vì vậy, sau khi sinh cần áp dụng chế độ dinh dưỡng lành mạnh, cân bằng, giàu protein, nhiều quả và rau tươi, glucid chuyển hóa chậm (bánh mì, cơm nếp), uống nhiều nước (8 ly/ngày) để loại các chất độc ra khỏi cơ thể.

Khi cảm thấy cơ thể mệt mỏi, cần bổ sung đường (bánh quy, bánh ngọt, kẹo hay các loại mứt). Các nghiên cứu y học cho thấy các bà mẹ trẻ khi đẻ mổ thường bị thiếu máu (tỷ lệ hồng tố cầu thường xuống dưới 10g/100ml máu) nên cần chú ý bổ sung thêm sắt, các vitamin tổng hợp trong ít nhất 3 tháng đầu sau khi sinh. Ngoài ra cần bổ sung thêm magie và canxi (các chế phẩm từ Sữa hay nước uống giàu canxi). 

 

 Theo VTV

Tiểu ra máu

Bà M.T.N.Đ, 62 tuổi, ngụ tại Bến Tre thường xuyên đi khám bệnh tại BV. Chợ Rẫy, TP.HCM, và lần nào cũng phát hiện bà TRM. Bà hết sức lo lắng không hiểu nguyên nhân do đâu, trong khi nhìn bằng mắt thường thấy nước tiểu không có gì lạ, nhất là không có một chút nào gọi là máu.

TRM đại thể

Số lượng hồng cầu trong nước tiểu: ≥ 106/ml. Không nên nhầm TRM với một số tình trạng khác như:

- Chảy máu niệu đạo (máu chảy ra không phải trong lúc đi tiểu: chấn thương, dị vật, khối u, sau thăm niệu đạo bằng que thông).

- Chảy máu phụ khoa, máu hòa lẫn với nước tiểu.

- Hemoglobin niệu, myoglobin niệu, porphyrin niệu, hắc tố niệu, alcapton niệu.

- Nước tiểu có màu do các sắc tố mật, thức ăn (củ cải đỏ), thuốc gây nên. Định hướng chẩn đoán căn nguyên TRM dựa trên 3 yếu tố cơ bản:

Thời gian xuất hiện: TRM đầu bãi do máu chảy từ niệu đạo hay tuyến tiền liệt. TRM cuối bãi, do máu chảy từ bàng quang. TRM toàn bãi, do máu chảy từ thận hay đường bài tiết cao (nhưng nếu TRM nhiều thì bao giờ cũng là TRM toàn bãi).

Bối cảnh:

- Nếu có các rối loạn tiểu tiện (niệu đạo, tuyến tiền liệt, bàng quang). Đau vùng thắt lưng kiểu cơn đau quặn thận, có cục máu trong nước tiểu thì nguyên nhân TRM là ở đường bài tiết.

- Nếu TRM không kèm các rối loạn trên thì thường do căn nguyên bệnh cầu thận.

- Ba trường hợp đặc biệt gây TRM cần biết: bệnh ưa chảy máu, chấn thương vùng thắt lưng hoặc chấn thương bụng, dùng thuốc chống đông.

Xét nghiệm nước tiểu: protein niệu > 1,5g/24 giờ và có các tia hình máu, phản ánh một bệnh cầu thận.

TRM vi thể

Số lượng hồng cầu trong nước tiểu: 5.000 - 10.000/ml. TRM vi thể cũng có cùng ý nghĩa như TRM đại thể.

Đánh giá TRM

Lưu ý một số vấn đề:

Làm xét nghiệm thận. Những chỉ định làm xét nghiệm thận là:

- Lần đầu xét nghiệm nước tiểu thấy > 100 hồng cầu/vi trường kính hiển vi có độ phóng cực đại, hoặc:

- Trong 2 - 3 lần xét nghiệm nước tiểu, lần nào cũng thấy > 3 hồng cầu/ vi trường.

- Xét nghiệm nước tiểu có < 3 hồng cầu/vi trường ở bệnh nhân có nguy cơ cao về tiết niệu.

Chọn siêu âm hay chụp X-quang?

Nếu tổn thương lớn hơn 3cm thì siêu âm thận và chụp X-quang đường niệu tiêm tĩnh mạch có độ nhạy và độ đặc hiệu như nhau. Nếu tổn thương dưới 3cm, siêu âm thận bên với một phim chụp bụng không chuẩn bị là có lợi, an toàn và khá chính xác. Kết hợp chụp cắt lớp vi tính (CT scan) với chụp X-quang sẽ làm tăng độ nhạy với sỏi và các tổn thương khác.

Phân biệt TRM

Hình dạng hồng cầu trong nước tiểu phản ánh nguồn gốc TRM: hồng cầu biến dạng (vì phải đi qua ống thận) gợi ý TRM từ cầu thận, còn hồng cầu không biến dạng là TRM không do bệnh cầu thận. Cách đánh giá khác có độ tin cậy cao hơn là dựa vào đường cong phân phối hồng cầu trong nước tiểu kết hợp với thể tích trung bình hồng cầu. Nếu thể tích này thấp thì TRM là do căn nguyên cầu thận. Phương pháp này có độ nhạy 97% và độ đặc hiệu 80%.

Làm sinh thiết thận: cần sinh thiết thận nếu nghi TRM do bệnh cầu thận nhưng sinh thiết phải dựa vào từng ca cụ thể mà chỉ định.

Thuốc chống đông: ở người dùng thuốc chống đông thì TRM thường do tác động của thuốc đến những tổn thương sẵn có từ trước, chứ không phải do tổn thương mới.

Theo dõi TRM

Nếu các xét nghiệm chưa tìm được căn nguyên gây TRM thì 6 tháng sau nên làm lại xét nghiệm thận, rồi 1 năm sau kiểm tra lại lần nữa. Các ung thư tiềm ẩn thường sẽ có biểu hiện lâm sàng trong vòng 1 năm.

GS. PHẠM GIA CƯỜNG

 

Chuyên đề tìm hiểu về lạc nội mạc tử cung – kỳ 5

Hỏi: Tôi lấy chồng đã lâu nhưng chưa có con, đi khám  bác sĩ cho biết bị  lạc nội mạc tử cung ở cùng đồ (tôi không hề có bất kỳ biểu hiện nà...